Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu bướmtrên thế giới Bướm rất đa dạng và bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn, trừ vùng cực bắc và trên núi cao hơn 5500m (Schappert, 2000). Việt Nam nằm trong vùng Đông Phương nơi chiếm 21,4% tổng số loài bướm trên thế giới. Trong khu vực hay trên thế giới, bướm cũng được nghiên cứu khá kỹ.
Các công trình nghiên cứu về thành phần loài bướm đã xuất bản trong khu vực là Chou (1994) về bướm ở Trung Quốc, Ek – Amnuay (2012) về bướm Thái Lan, Corbet & Pendlebuty (1992) về bướm ở Malaysia, D’Abrera (1982- 1986) về bướm ở vùng Đông Phương - Úc, Osada et al. (1999) về bướm ở Lào, Wynter-Blyth (1957) về bướm ở Ấn Độ. Tính đa dạng của côn trùng tăng dần theo độ lớn của sinh cảnh và tính phức tạp về cấu trúc của thực vật trong sinh cảnh đó (Price, 1975). Điều này có nghĩa là sinh cảnh rừng có cấu trúc nhiều tầng tán và phong phú về thực vật thì sẽ có nhiều loài côn trùng hơn so với sinh cảnh rừng có cấu trúc ít tầng tán và hệ thực vật đơn giản.
Tính đa dạng về thực vật thay đổi nhiều theo thời gian và không gian. Diễn thế xảy ra ở quần xã thực vật kéo theo sự thay đổi cấu trúc quần xã côn trùng ở đó. Ngược lại, các loài côn trùng ăn thực vật có thể là một nhân tố quan trọng làm thay đổi quá trình diễn thế của quần xã thực vật. Mặt khác, côn trùng còn phản ứng với sự thay đổi về thực vật bằng sự điều chỉnh chu trình sống và tập tính của mình ở các giai đoạn khác nhau của qúa trình diễn thế.
Theo New & Collins (1991) có bốn nguyên nhân gây áp lực làm cho các loài bướm bị đe doạ là: (1) sự phá huỷ và làm thay đổi sinh cảnh (habitat), c 4 (2) ô nhiễm môi trường, (3) các loài ngoại lai (Exotic species), và (4) khai thác thương mại. Các loài bướm phân bố hẹp sống gắn liền với rừng rất dễ bị tổn thương, vì vậy muốn bảo tồn chúng cần phải bảo vệ rừng. Thomas (1991) nghiên cứu bướm ở Co-xta Ri-ca đã xác định các loài bướm phân bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trường bị thay đổi kém hơn so với các loài phân bố rộng. Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chưa bị thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn tại của chúng.
Thomas & Mallorie (1985) cho rằng đa dạng loài bướm có quan hệ với tỷ lệ độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài bướm sống gắn liền với các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lược để bảo tồn bướm tốt nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh. Theo Schappert (2000), để bảo tồn bướm cũng như bảo tồn các loài động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trước tiên giải quyết được ba vấn đề: thứ nhất, cần biết vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài gần gũi hoặc các loài khác xung quanh chúng; thứ hai, cần biết phân bố địa lý và điều kiện sinh thái như yêu cầu về sinh cảnh hay sự ưa thích sinh cảnh của loài; cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về sinh học của loài. Trên thế giới, có khá nhiều công trình nghiên cứu về sinh học và bảo tồn bướm. Có các công trình nghiên cứu rất có giá trị về khoa học, như việc xác định cây chủ, vòng đời, tập tính và phân bố của bướm.
Trong số các loài bướm, nhiều loài quý, hiếm có trong danh lục của CITES và IUCN cũng được nghiên cứu. Những tài liệu này rất có ích trong công tác bảo tồn nhân nuôi bướm (Igarashi 2001; Igarashi & Fukuda, 1997-2000; Koiwaya, 1996). Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt Nam Bướm Việt Nam được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ XX. Trong đó, công trình đầu tiên nghiên cứu về bướm ở Việt Nam là cuốn Côn c 5 trùng Đông dương (Dubois & Vitalis, 1919) với danh lục 611 loài, đây cũng là danh lục bướm đầu tiên của các quốc gia vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia).
Sau đó Metaye (1957) đã xác định danh lục 454 loài bướm Việt Nam. Kết quả điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976) với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam, đã xác định 181 loài thuộc 9 họ bướm. Công trình chủ yếu là xác định các loài côn trùng gây hại. Tiếp theo là công trình về điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 1970 (Mai Phú Qúy và nnk., 1981) đã xác định danh lục 161 loài.
Có thể nói từ những năm 90 của thế kỷ XX, có khá nhiều công trình nghiên cứu về bướm được tiến hành. Các khảo sát về bướm được thực hiện ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên. Các nhà côn trùng nước ngoài nghiên cứu bướm ở Việt Nam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Séc và một số quốc gia khác. Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga; Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
Các công trình nghiên cứu về bướm đã được tiến hành ở các Vườn Quốc gia của Việt Nam, như: Ba Bể, Bắc Cạn (Đặng Thị Đáp & Hoàng Vũ Trụ, 2003; Monastyrskii et al., 1998); Hoàng Liên, Lào Cai (Vũ Văn Liên, 2003; Monastyrskii & Hill, 1997; Monastyrskii et al., 1999; Cúc Phương, Ninh Bình (Đặng Thị Đáp và nnk., 1995; Lương Văn Hào et al., 2004; Vũ Văn Liên & Đặng Thị Đáp, 2002; Ikeda et al., 1998, 1999, 2000); Tam Đảo, Vĩnh Phúc (Đặng Thị Đáp và nnk., 2011; Phạm Văn Lầm, 2005; Phạm Văn Lầm và nnk., 2004; Khuất Đăng Long & Vũ Quang Côn, 2005; Vu, 2007, 2013); Cát Bà, Hải Phòng (Đặng Ngọc Anh & Vũ Văn Liên, 2005); Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình (Đặng Thị Đáp, 1997); Núi Chúa, Ninh Thuận (Tạ c 6 Huy Thịnh và nnk. Các công trình nghiên cứu về bướm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên ở Việt Nam, như: Ngọc Linh, Kon Tum (Bùi Xuân Phương, 2005); Hòn Bà, Khánh Hoà (Vũ Văn Liên, 2005). Các công trình mô tả loài bướm mới cho khoa học, điển hình là Devyatkin (1996, 1997), tác giả đã mô tả rất nhiều loài bướm mới thuộc họ Hesperiidae. Ngoài ra, một số công trình khác cũng mô tả loài bướm mới cho khoa học là Devyatkin & Monastyrski (1999), Funahasha (2003), Monastyrskii (2005), Monastyrskii & Devyatkin (2003) & Yokochi (2004).
Cho đến nay, Việt Nam có hơn 1000 loài bướm. Một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao ở Miền Trung Việt Nam cho thấy đa dạng về loài và phong phú của các loài trong quần xã bướm ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005). Phần lớn các công trình nghiên cứu về bướm ở Việt Nam tập trung vào xây dựng danh sách loài. Các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học về bướm còn ít.
Spitzer et al. (1987) nghiên cứu bướm ở các sinh cảnh khác nhau ở rừng khô Khánh Hoà đã xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa đa dạng thành phần loài bướm với đa dạng về thành phần các loài thực vật có mạch. Số loài bướm có quan hệ thuận với số loài thực vật có mạch ở rừng khô Khánh Hòa. Một số công trình nghiên cứu về sinh học bướm ở Việt Nam, được tiến hành do các nhà nghiên cứu nước ngoài Koiwaya et al (2003) nghiên cứu vũng đời của bốn loài bướm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Phia Oác (Cao Bằng) và Sapa (Lào Cai).
Đây là những loài chỉ sống trên các vùng núi cao ở Việt Nam. Theo nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Việt Nam có 4 loài bướm là Teinopalpus aureus, T. imperialis, Troides helena ceberus và Zeuxidia c 7 masoni được xếp vào danh lục nhóm II. Đây là nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
Tạ Huy Thịnh & Hoàng Vũ Trụ (2004) đã so sánh độ tương đồng về thành phần loài bướm giữa một số Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên của Việt Nam. Tác giả đã xác định yếu tố địa lý - khí hậu là yếu tố quyết định và độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tương đồng về thành phần loài bướm giữa các khu vực. Tạ Huy Thịnh và nnk. (2005b) với kết quả điều tra côn trùng (gồm cả bướm) dọc theo tuyến đường cao tốc dự kiến Hà Nội-Thái Nguyên đã xác định các chỉ số đa dạng côn trùng thấp và có xu hướng tăng theo hướng từ Hà Nội tới Thái Nguyên.
Tuy nhiên, hệ sinh thái ở đó là hệ sinh thái nông nghiệp, do vậy, tính đa dạng của côn trùng thấp. Tóm lại, việc nghiên cứu bướm ở Việt Nam đã được tiến hành khá sớm, từ đầu thế kỷ XX. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xây dựng danh lục loài được tiến hành ở các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam. Các khu vực có nhiều nghiên cứu về bướm ở Việt Nam điển hình là Tam Đảo, Cúc Phương, Hoàng Liên, Cát Tiên, v.
Nghiên cứu về bướm tại Đắkrông, Bạch Mã và Bà Nà – Núi Chúa Có một số công trình nghiên cứu về bướm các khu vực nghiên cứu mà đề tài thực hiện, trong đó điển hình là công trình của Lê Trọng Sơn và nnk. (2003) về kết quả điều tra khu hệ bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Vườn Quốc gia Bạch Mã; Lê Trọng Sơn (2004) đa dạng sinh học về côn trùng; Lê Trọng Sơn và nnk. (2005) về kết quả nghiên cứu về đa dạng họ Nymphalidae (Lepidoptera) ở VQG Bạch Mã; Lê Trọng Sơn và Trương Thị Bé (2008) về Kết quả nghiên cứu họ Bướm phượng (Papilionidae) ở hành lang Phong Điền – Bạch Mã, Thừa Thiên Huế; Nguyễn Thế Nhã và nnk. (2011) điều tra, thiết lập danh lục các loài Côn trùng ở khu mở rộng Vườn c 8 quốc gia Bạch Mã; Huỳnh Văn Kéo và Trần Thiên Ân (2011) kiểm kê danh lục động – thực vật Vườn quốc gia Bạch Mã: Phần côn trùng.
Các nghiên cứu về bướm Bạch Mã đã xác định 256 loài thuộc các họ Papilionidae, Pieridae, Danaidae, Satyridae, Amathusiidae, Nymphalidae, Lycaenidae, Hesperiidae. Bà Nà – Núi Chúa: Theo tài liệu thống kê của Trần Khánh Toàn (2004), có 45 loài bướm ngày tại KBTTN Bà Nà – Núi Chúa.