Nghiên cứu đa dạng sinh học cá và giải pháp khai thác hợp lý tại vùng cửa Hội, Nghệ An

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lê thị như phương, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG

1.1.1. Các khái niệm về cửa sông

1.1.2. Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam

1.1.3. Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt Nam

1.1.4. Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông – ven biển Việt Nam

1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM

1.3. THỰC TRẠNG KHAI THÁC, VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM

1.3.1. Thực trạng khai thác

1.3.2. Khó khăn và thách thức

1.4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN

1.5. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. Địa điểm nghiên cứu

1.5.2. Đối tƣợng nghiên cứu

1.5.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

1.5.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.4.1. Phƣơng pháp kế thừa, tổng hợp
1.5.4.2. Phƣơng pháp thu mẫu thực địa
1.5.4.3. Phƣơng pháp định loại trong phòng thí nghiệm

1.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1.6.1. NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.6.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.6.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.6.2. ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ TẠI VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN

1.6.2.1. Tính đa dạng của khu hệ cá qua các bậc phân loại
1.6.2.2. Dạng sống và các nhóm sinh thái
1.6.2.3. Các loài cá quý hiếm tại khu vực nghiên cứu

1.6.3. THỰC TRẠNG NGHỀ CÁ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN

1.6.3.1. Khai thác thủy sản
1.6.3.2. Nuôi trồng thủy sản
1.6.3.3. Cơ sở dịch vụ và chế biến thủy sản
1.6.3.4. Thách thức đối với nguồn lợi cá vùng cửa Hội, Nghệ An

1.7. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN

1.7.1. Sử dụng hợp lý nguồn lợi cá

1.7.2. Các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC ĐỊA

HÌNH ẢNH CÁC LOÀI CÁ NẰM TRONG SÁCH ĐỎ 2007

HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI

Tóm tắt

I. Tổng quan về đa dạng sinh học cá và tầm quan trọng

Đa dạng sinh học cá là một phần quan trọng trong hệ sinh thái nước, đặc biệt là ở các vùng cửa sông và ven biển. Vùng cửa sông Việt Nam, với hệ thống sông ngòi phong phú, tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều loài cá khác nhau. Sự đa dạng này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, sự khai thác không hợp lý đang đe dọa đến nguồn lợi này.

1.1. Định nghĩa và vai trò của đa dạng sinh học cá

Đa dạng sinh học cá bao gồm sự phong phú về số lượng loài, sự đa dạng về gen và các hệ sinh thái mà chúng sống. Vai trò của cá trong hệ sinh thái rất quan trọng, từ việc duy trì chuỗi thức ăn đến việc cung cấp nguồn thực phẩm cho con người.

1.2. Tình hình hiện tại của đa dạng sinh học cá ở Việt Nam

Việt Nam có khoảng 794 loài cá biển và nhiều loài cá nước ngọt. Tuy nhiên, sự suy giảm đa dạng sinh học cá đang diễn ra do khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường. Các loài cá quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

II. Thách thức trong khai thác cá và bảo tồn đa dạng sinh học

Khai thác cá ở vùng cửa sông đang gặp nhiều thách thức. Sự gia tăng dân số và nhu cầu thực phẩm đã dẫn đến việc khai thác quá mức. Điều này không chỉ làm giảm nguồn lợi cá mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng. Các tác động từ biến đổi khí hậu cũng đang làm trầm trọng thêm tình hình.

2.1. Tác động của khai thác cá đến môi trường

Khai thác cá không bền vững dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học và hủy hoại môi trường sống. Việc sử dụng các phương pháp khai thác không hợp lý như đánh bắt bằng thuốc nổ hay lưới kéo đã gây ra thiệt hại lớn cho hệ sinh thái.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến nguồn lợi cá

Biến đổi khí hậu gây ra sự thay đổi nhiệt độ nước, độ mặn và các yếu tố môi trường khác, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá. Nhiều loài cá không thể thích nghi kịp thời với những thay đổi này, dẫn đến sự suy giảm số lượng.

III. Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học cá hiệu quả

Để bảo tồn đa dạng sinh học cá, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc áp dụng các biện pháp quản lý nguồn lợi thủy sản bền vững là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức.

3.1. Các biện pháp quản lý nguồn lợi thủy sản

Quản lý nguồn lợi thủy sản cần dựa trên cơ sở khoa học, bao gồm việc thiết lập các khu bảo tồn biển và quy định về khai thác. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương để thực hiện hiệu quả.

3.2. Giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của đa dạng sinh học cá và các biện pháp bảo vệ môi trường là rất cần thiết. Các chương trình truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn.

IV. Ứng dụng công nghệ trong khai thác cá bền vững

Công nghệ hiện đại có thể giúp cải thiện quy trình khai thác cá, từ việc giám sát nguồn lợi đến việc phát triển các phương pháp nuôi trồng thủy sản bền vững. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nguồn lợi cá cũng đang được chú trọng.

4.1. Công nghệ giám sát nguồn lợi cá

Sử dụng công nghệ cảm biến và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để theo dõi tình trạng nguồn lợi cá. Điều này giúp các nhà quản lý có thông tin chính xác để đưa ra quyết định khai thác hợp lý.

4.2. Phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững

Nuôi trồng thủy sản bền vững có thể giảm áp lực lên nguồn lợi cá tự nhiên. Cần phát triển các mô hình nuôi trồng thân thiện với môi trường, sử dụng thức ăn tự nhiên và giảm thiểu ô nhiễm.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho đa dạng sinh học cá

Bảo tồn đa dạng sinh học cá là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng để thực hiện các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Hướng đi tương lai cần tập trung vào phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống của các loài cá.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác trong bảo tồn

Sự hợp tác giữa các bên liên quan là rất quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cá. Các chương trình hợp tác quốc tế cũng có thể mang lại nhiều lợi ích cho việc bảo vệ nguồn lợi cá.

5.2. Định hướng phát triển bền vững trong khai thác cá

Định hướng phát triển bền vững cần được đưa vào các chính sách khai thác cá. Cần có các quy định rõ ràng về khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá để đảm bảo sự phát triển lâu dài.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học lê thị như phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Việt Nam có bờ biển dài 3260 km với hơn 100 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển đã tạo nên vùng nƣớc cửa sông rộng lớn, xuất hiện nhiều hệ sinh thái và sinh cảnh đặc trƣng. Chính điều đó đã tạo nên ĐDSH cao cho vùng cửa sông – ven biển và sự phong phú về thành phần loài, mở ra tiềm năng khai thác to lớn. Một trong những nguồn lợi chiếm tỉ trọng lớn của vùng là sự đa dạng các loài cá. Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác các dạng tài nguyên vùng cửa sông ngày càng đẩy mạnh nhƣng không đƣợc đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng nhƣ hủy hoại nơi sống đặc trƣng của nhiều loài, gây sự suy giảm tính ĐDSH, giảm sút nguồn lợi của các đối tƣợng khai thác có giá trị trong vùng cửa sông, đặc biệt là nguồn lợi cá.

Tình hình đó đặt ra cho ngành thủy sản nhiều thách thức để vừa có thể khai thác hợp lý, đồng thời phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Sông Lam (sông Cả) là con sông lớn nhất khu vực miền Trung chảy qua Nghệ An, Hà Tĩnh với chiều dài là 361 km, có diện tích lƣu vực là 17. Cửa Hội là cửa sông chính của sông Lam đổ ra Biển Đông, tại ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Địa danh cửa Hội là tên gọi chung của các phƣờng Nghi Hải, Nghi Hòa và xã Nghi Xuân - nằm ở cực Nam của thị xã Cửa Lò.

Do là cửa sông lớn của tỉnh Nghệ An, nên vùng biển khu vực cửa Hội đƣợc đánh giá cao về nguồn lợi thủy sản cũng nhƣ điều kiện để phát triển nghề cá. Nguồn lợi thủy, hải sản đã và đem lại những lợi ích to lớn phục vụ trực tiếp cho cuộc sống và phát triển kinh tế trong vùng. Trƣớc đây sản lƣợng khai thác thủy, hải sản tại khu vực cửa Hội khá cao, nhiều loài có giá trị kinh tế. Trong những năm gần đây, do nhu cầu thực phẩm từ sức ép dân số, nhu cầu phát triển nhằm thỏa mãn tiêu dùng dẫn tới việc khai khác quá mức nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ngày càng gia tăng, chƣa dựa trên cơ sở khoa học, không theo quy hoạch lâu dài, cùng với ô nhiễm môi trƣờng đã làm suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật, phá hoại môi trƣờng sống của nhiều loài thủy sinh vật, trong đó có cá.

Vấn đề này đặt ra thách thức đối với ngành thủy sản 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tỉnh Nghệ An, cần có những biện pháp để khai thác hợp lý nguồn thủy sản nói chung và cá nói riêng ở vùng cửa Hội. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An”, nhằm mục đích: 1. Xác định đƣợc thành phần các loài cá ở khu vực nghiên cứu. Bƣớc đầu tìm hiểu về thực trạng nghề cá trong vùng.

Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG 1.

Các khái niệm về cửa sông Từ cửa sông (estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm từ aestus là thủy triều, còn estuary là từ chỉ một dạng của lục địa, trong đó thủy triều đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sự phát triển tiến hóa của vùng. Bởi vậy, trong các từ điển ngƣời ta giải thích “cửa sông là cửa các con sông lớn có thủy triều” (từ điển Oxford) hoặc “một vùng gần bờ đƣợc khống chế bởi nƣớc biển khi triều cao, một vùng biển đƣợc tạo thành bởi cửa một con sông” (Larouse) [24]. Theo quan điểm của các nhà địa mạo thì cửa sông là cửa của con sông mà ở đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không đƣợc đền bù hoặc là một thung lũng sông bị chìm ngập do mực nƣớc biển dâng lên, thƣờng có dạng hình phễu. Những định nghĩa dựa trên các quan điểm riêng về địa mạo, địa chất, khí hậu… thƣờng loại bỏ nhiều nguyên tắc và các khuynh hƣớng thực dụng trong nghiên cứu khoa học ở các nƣớc và các khu vực khác nhau trên thế giới [24].

Theo quan điểm động lực, D. Pritchard (1967) cho rằng “Cửa sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong đó, nƣớc biển hòa trộn có mức độ với nƣớc ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”. Tuy nhiên, theo định nghĩa này, các hệ cửa sông mù (blind estuary) và các cửa sông quá mặn (hyperhaline) bị loại trừ. Nhƣ vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở đó luôn xảy ra hai quá trình trái ngƣợc nhau là bồi tụ và bào mòn.

Hai quá trình này xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thủy triều, hải lƣu) và các quá trình địa chất. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng cửa sông không chỉ là nơi nƣớc ngọt và nƣớc mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất của nƣớc, từ ngọt sang mặn. Chính vì vậy vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy văn biển. Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam Vùng cửa sông Việt Nam trải ra dọc bờ biển từ 8030’ đến 21030’ vĩ độ Bắc và quanh các đảo, tạo nên vùng nƣớc lợ rộng lớn với hàng loạt các hệ thống sông lớn nhỏ.

Hai hệ thống sông lớn nhất nƣớc ta là hệ thống sông Hồng – Thái Bình và Cửu Long – Đồng Nai. Các hệ thống sông của nƣớc ta phần lớn đổ ra biển Đông theo hƣớng Tây Bắc, Đông Nam với mật độ khoảng 15 – 20km/cửa sông, trừ một số sông ở vùng Đông Bắc nhƣ Bằng Giang – Kỳ Cùng, là phụ lƣu của sông Tây Giang (Trung Quốc) và các sông ở phía Tây Trƣờng Sơn đổ vào sông Mê Kông. Trong mạng lƣới này, 90% là sông nhỏ, chỉ có 9 hệ thống sông lớn với diện tích lƣu vực trên 10.000km2 nhƣ hệ thống sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long. 76% diện tích lãnh thổ nƣớc ta thuộc các hệ thống sông này [24].

Các hệ thống sông miền Bắc hoạt động theo mùa, liên quan với chế độ mƣa của toàn lƣu vực. Mùa mƣa của các sông ở Bắc Bộ kéo dài từ tháng 6 – 10, muộn hơn đối với các sông ở phía Nam. Ở thời kỳ này, lƣợng dòng chảy chiếm 75 – 90% tổng lƣợng nƣớc và 90% tổng lƣợng bùn cát cả năm, làm cho vùng cửa sông bị ngọt hóa và mở rộng ra biển hàng chục cây số. Ngƣợc lại, vào mùa kiệt trong những tháng còn lại, lƣợng dòng chảy thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp.

Thủy triều còn đƣa nƣớc biển xâm nhập sâu vào lục địa theo các triền sông. Các hệ thống sông miền Trung đều ngắn và dốc ở phía thƣợng lƣu, còn ở hạ lƣu chảy trên dải đồng bằng hẹp, khá bằng phẳng. Mùa lũ của các sông thƣờng kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 với lƣợng dòng chảy tập trung trong 3 tháng chiếm 50 – 70% tổng lƣợng nƣớc cả năm. Mùa kiệt bắt đầu mỗi nơi một khác: từ Hà Tĩnh đến bắc Thừa Thiên - Huế là các tháng 2, 3, 4 và 7, 8; còn từ nam Thừa Thiên – Huế đến Bình Định vào tháng 6, 7.

Lƣợng dòng chảy lúc này chỉ chiếm 1 – 2% lƣợng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dòng chảy năm. Bởi vậy, vào mùa kiệt, ở vùng cửa sông và hạ lƣu sông thuộc duyên hải miền Trung, nƣớc thƣờng bị mặn hóa. Nhiều đoạn thấp của hạ lƣu các sông ít nƣớc, các thung lũng sông khô cạn, trên nhiều đoạn nƣớc chỉ tồn tại ở các dòng chảy gốc [24]. Ở Nam Bộ, động lực chính để tạo nên vùng nƣớc lợ và mở rộng châu thổ ra biển là hệ thống sông Cửu Long.

Vào lãnh thổ nƣớc ta, sông chảy theo hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu rồi dồn nƣớc ra biển đông qua 9 cửa. Sông có lƣợng dòng chảy lớn, 550.109 m3 nƣớc và từ 75 đến 100 triệu tấn bùn cát mỗi năm. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến tháng 11. Đỉnh lũ xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 với lƣợng dòng chảy chiếm 25 – 27% tổng lƣợng nƣớc cả năm.

Ba tháng có dòng chảy lớn nhất (60 – 65% tổng lƣợng nƣớc) làm cho toàn vùng biển ven bờ bị ngọt hóa. Trong các tháng kiệt, lƣu lƣợng sông rất thấp, khoảng 1700m3/s đã thu hẹp vùng cửa sông vào sát bờ, nƣớc mặn theo thủy triều tràn vào các cửa sông rộng, xâm nhập rất sâu vào đất liền, nhất là nửa cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 4. Tháng chịu ảnh hƣởng mặn ít nhất là tháng 10. Do đó, trong mùa khô, xấp xỉ 1,7 đến 2 triệu ha – chiếm 50% diện tích đất đai châu thổ sông Cửu Long bị mặn hóa do sự xâm nhập mặn từ nhẹ tới nặng [24].

Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt Nam Vùng cửa sông – ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhƣng giàu có về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều giáp xác và cá biển. Ở vùng ven biển đã xác định đƣợc khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển, 4971 loài động vật đáy… [22, 24] Vùng cửa sông – ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trƣng tạo nên nhiều đặc sản nhƣ tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài là mặt hàng có giá trị kinh tế, làm thực phẩm, làm cảnh… đƣợc tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Trong số đó cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tƣợng có sản lƣợng lớn và đang đƣợc khai thác. Cá ở vùng biển nông chiếm tới 80 – 90% tổng sản lƣợng cá 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khai thác đƣợc.

Riêng tôm, năm 1995 sản lƣợng là 19.000 tấn, cua ghẹ chiếm trên 3% tổng sản lƣợng hải sản khai thác [24].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ