Chương 1 Tốc độ cực đại, quan sát viên đứng yên và chuyển động của ánh sáng Motion Mountain – The Adventure of Physics “ ” Fama nihil est celerius.** Cổ nhân Á nh sáng rất cần cho việc mô tả chính xác một chuyển động. Để kiểm tra một đường, một quỹ đạo chuyển động có thẳng hay không, chúng ta phải nhìn dọc theo đường đó. Nói cách khác, ta dùng ánh sáng để xác định tính chất thẳng. Làm cách nào để xác định là một mặt có phẳng hay không? Chúng ta nhìn ngang qua Câu đố 2 s nó.
Lại cần đến ánh sáng*** Chúng ta quan sát chuyển động bằng cách nào? Bằng ánh sáng. Làm sao để có thể đo chiều dài thật chính xác? Bằng ánh sáng. Làm sao để có thể đo thời gian thật chính xác? Bằng ánh sáng: ngày xưa người ta dùng ánh sáng mặt trời; copyright © Christoph Schiller June 1990–06 2020 Trang 302 ngày nay là ánh sáng từ nguyên tử caesium. Tóm lại, ánh sáng quan trọng vì ⊳ Ánh sáng là tiêu chuẩn của một chuyển động lý tưởng, không bị nhiễu loạn.
Vật lý sẽ tiến hoá nhanh hơn nhiều nếu trước kia sự lan truyền ánh sáng được xem là một thí dụ lý tưởng về sự chuyển động. Nhưng ánh sáng có thực sự là một hiện tượng của sự chuyển động không? Có đấy. Người Hy Lạp cổ đã biết điều này, từ những hiện tượng đơn giản thông thường, cái bóng. Bóng chứng tỏ rằng ánh sáng là một thực thể chuyển động, phát ra từ nguồn Xem 1 sáng và chuyển động theo đường thẳng.**** Tư tưởng gia Hy Lạp Empedocles (c.
490 free pdf file available at www.net ** ‘Không có gì nhanh hơn tin đồn.’ Câu này là phiên bản giản lược câu nói của Virgil: fama, malum qua non aliud velocius ullum. ‘Tin đồn, một con quỷ nhanh hơn tất cả.’ From Aeneid, book IV, verses 173 and 174. *** Nên nhớ rằng nhìn dọc theo một mặt từ nhiều hướng khác nhau vẫn chưa đủ: một chùm tia sáng tiếp xúc với một mặt dọc theo tia sáng và theo khắp mọi hướng, thì mặt đó chưa chắc đã phẳng. Bạn có thể cho một thí dụ không? Người ta cần các phương pháp khác để kiểm tra tính phẳng bằng ánh sáng.
Bạn có thể chỉ ra một phương pháp không? **** Bất cứ khi nào có một nguồn phát sinh bóng, người ta gọi thực thể được phát ra đó là tia hay bức xạ. Trừ ánh sáng, các thí dụ về bức xạ được khám phá nhờ cái bóng là tia hồng ngoại, tia tử ngoại, phát ra từ nhiều nguồn sáng cùng với ánh sáng khả kiến, và tia cathode, là chuyển động của một hạt mới, electron. Bóng cũng dẫn tới việc khám phá ra tia X, cũng là ánh sáng nhưng có tần số cao. Tia anode cũng được khám phá nhờ bóng của chúng; hoá ra đó là các nguyên tử bị ion hoá, di chuyển.
Ba loại phóng xạ là tia α (hạt nhân helium), tia β (lại là điện tử) và tia γ (tia X có tần số cao) cũng tạo ra bóng. Tất cả các khám phá này đều diễn ra trong khoảng từ 1890 đến 1910: đó là ‘những tháng ngày bức xạ’ của vật lý. chuyển động của ánh sáng 17 Motion Mountain – The Adventure of Physics HÌNH 2 Làm cách nào để kiểm tra các đường là cong hay thẳng? tới c. 430 b ce) rút ra một kết luận hợp lý là ánh sáng cần thời gian để đi từ nguồn đến bề mặt chứa cái bóng.
Empedocles cho rằng copyright © Christoph Schiller June 1990–06 2020 ⊳ Tốc độ ánh sáng là hữu hạn. Chúng ta có thể khẳng định điều này qua nhiều cuộc tranh luận, đơn giản nhưng gay go. Tốc độ có thể đo được. Và đo có nghĩa là so sánh với một mẫu chuẩn.
Do đó một tốc độ hoàn hảo hay lý tưởng, được dùng làm chuẩn đo lường tuyệt đối, phải có giá trị hữu Câu đố 3 s hạn. Một chuẩn vận tốc vô hạn sẽ không thể dùng để đo được. (Tại sao?) Trong thiên nhiên, vật nhẹ hơn sẽ có khuynh hướng chuyển động nhanh hơn. Ánh sáng, cực kỳ nhẹ, hiển nhiên là một ứng cử viên vì chuyển động hoàn hảo mà tốc độ lại hữu hạn.
Chúng ta sẽ chứng minh điều này ngay sau đây. Tốc độ ánh sáng hữu hạn có nghĩa là bất kỳ cái gì chúng ta thấy được đều là thông điệp từ quá khứ. Khi ta thấy các ngôi sao,* Mặt trời hay người ta yêu, ta luôn luôn thấy hình ảnh từ quá khứ. Theo một nghĩa nào đó, thiên nhiên không cho ta thưởng ngoạn free pdf file available at www.net hiện tại – mà hướng dẫn cho ta học cách thưởng ngoạn quá khứ.
Tốc độ ánh sáng rất lớn; do đó mãi đến những năm từ 1668 đến 1676 người ta mới đo được, cho dù có nhiều người, gồm Isaac Beeckman năm 1629 và Galileo năm 1638, Xem 3 đã cố gắng đo nó. ** Phương pháp đo đầu tiên do thiên văn gia Đan Mạch Ole Rømer * Hình của bầu trời đêm và Ngân hà, trên Trang 15 bản quyền của Anthony Ayiomamitis và có thể tìm thấy trên website tuyệt vời www.gr của ông. ** Trong suốt cuộc đời, và cho đến năm 1638, René Descartes vẫn tuyên bố tốc độ ánh sáng là vô hạn vì những lý do mang tính nguyên tắc. Nhưng trong năm 1637, để giải thích định luật Snell, ông phải giả sử tốc độ ánh sáng là hữu hạn.
Điều này cho thấy các triết gia đã rối trí đến cỡ nào. Thật vậy, Descartes viết cho Xem 2 Beeckman năm 1634 rằng, nếu người ta có thể chứng minh tốc độ ánh sáng là hữu hạn, ông sẽ thẳng thắn thừa nhận là mình ‘không biết gì về triết học cả.’ Chúng ta nên tin lời ông. 18 1 tốc độ cực đại, quan sát viên đứng yên Jupiter và Io (đo lần 2) Trái đất Motion Mountain – The Adventure of Physics (đo lần 2) Trái đất Mặt trời (đo lần 1) Jupiter và Io (đo lần 1) HÌNH 3 Phương pháp đo tốc độ ánh sáng của Rømer. công bố và thực hiện* khi ông đang nghiên cứu quỹ đạo của Io và các vệ tinh Galilei Quyển I, trang 210 của Mộc tinh.
Ông không kiếm được một giá trị đặc biệt nào của tốc độ ánh sáng vì ông không có số đo đủ tin cậy của khoảng cách từ Trái đất đến các vệ tinh và phép đo thời gian của ông cũng không chính xác. Thiếu sót này đã được các đồng nghiệp copyright © Christoph Schiller June 1990–06 2020 Xem 4 của ông, chủ yếu là Christiaan Huygens và Edmund Halley sửa chữa. (Bạn hãy thử tìm Câu đố 4 s hiểu phương pháp của Rømer từ Hình 3.) Từ thời Rømer người ta đã biết ánh sáng cần khoảng 8 phút để đi từ Mặt trời đến Trái đất. Kết quả này đã được kiểm chứng một cách ngoạn mục sau đó 50 năm, vào thập niên 1720, một cách độc lập, bởi các nhà thiên văn Eustachio Manfredi (b.
1739 Bologna) và James Bradley (b. 1693 Quyển I, trang 153 Sherborne , d. Phép đo của họ dựa vào ‘phương pháp giọt mưa’ để xác Xem 5 định tốc độ ánh sáng. Q uang sai và tố c đ ộ của giọt mưa rơi 𝛼 của giọt mưa, rồi đo vận tốc riêng của chúng ta 𝑣.
(Chúng ta có thể thấy rõ góc này, Làm thế nào để đo tốc độ của giọt mưa rơi? Khi chúng ta cầm dù rảo bước, hãy đo góc Như đã thấy trong Hình 4, tốc độ 𝑐 của giọt mưa có thể tính (gần đúng) bằng công thức nếu trong khi đi, chúng ta nhìn sang hai bên mình, mưa sẽ nổi rõ trên màn trời đen.) free pdf file available at www. (1) Tương tự, ta có thể đo tốc độ gió khi ở trên ván buồm hay trên một con tàu. Phương pháp này cũng có thể áp dụng cho tốc độ ánh sáng. Hình 4 chứng tỏ rằng ta chỉ cần * Ole (Olaf) Rømer (b.
1710 Copenhagen), thiên văn gia lỗi lạc. Ông là giáo sư của trường Dauphin ở Paris, thời vua Louis XIV. Ý tưởng đo tốc độ ánh sáng bằng phương pháp này là của thiên văn gia Ý Giovanni Cassini, mà Rømer là phụ tá. Rømer tiếp tục công việc cho đến năm 1681, khi ông phải rời France, như những người Tin Lành khác (giống Christiaan Huygens), vì vậy công việc của ông bị gián đoạn.
Trở về Đan Mạch, một cơn hoả hoạn thiêu huỷ tất cả ghi chép về việc đo đạc của ông. Hậu quả là ông không thể tiếp tục cải thiện độ chính xác của các phép đo. Sau đó ông trở thành một viên chức và nhà cải cách quan trọng của Đan Mạch. chuyển động của ánh sáng 19 Quan điểm của mưa Quan điểm của ánh sáng Quan điểm của gió ánh sáng gió mưa c c c v Trái đất v Motion Mountain – The Adventure of Physics Mặt trời Quan điểm của bộ hành Quan điểm của người Quan điểm của người c c c v v copyright © Christoph Schiller June 1990–06 2020 HÌNH 4 Phương pháp Bộ hành dưới mưa hay Người lướt ván buồm dùng để đo tốc độ ánh sáng.
chuyển động đối với Mặt trời và ngôi sao nên góc này không bằng 90°. Độ lệch này được đo góc giữa vận tốc của Trái đất trên quỹ đạo và tia sáng đến từ ngôi sao. Vì Trái đất Xem 7 Eustachio Manfredi gọi là quang sai. Quang sai được xác định bằng cách so sánh các số đo trong thời gian 1 năm, đặc biệt, cách nhau 6 tháng.
James Bradley là người giải thích hiện tượng quang sai và cũng là người thực hiện các phép đo tương tự, độc lập với hoàng đạo là 20.1 mrad – một góc rất nhỏ. Nó được gọi là hằng số quang Manfredi.* Giá trị đo được của quang sai đối với một ngôi sao ở ngay trên mặt phẳng * Ở châu Âu, vào năm 1719 hay 1726 dù không được dùng nhiều; sau này chúng mới trở thành thời trang. free pdf file available at www.net Chuyện dù cũng là một giai thoại. Người ta kể rằng Bradley hiểu được khái niệm quang sai trong khi đi thuyền trên sông Thames, khi đó ông nhận thấy rằng trên con tàu chuyển động, gió thể hiện qua lá cờ trên tàu, có hướng tuỳ thuộc vào hướng tàu chạy và do đó khác với hướng lúc trên đất liền.
Trong nhiều năm, độc lập với nhau, Manfredi và Bradley đã quan sát nhiều ngôi sao, đặc biệt là sao Gamma Draconis, và trong thời gian đó họ đã bối rối khi thấy dấu của quang sai, ngược với dấu của thị sai. Cả thị sai lẫn quang sai của một ngôi sao trên mặt phẳng hoàng đạo đều làm cho chúng vẽ thành một ellipse nhỏ trong thời Ngày nay chúng ta biết rằng thị sai lớn nhất của một ngôi sao là 0.77 , trong khi trục chính của ellipse Câu đố 5 s gian 1 năm của trái đất, mặc dù các ellipse khác nhau về hướng và chiều quay.