Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Mặc dù "dịch vụ môi trường rừng" là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của dịch vụ môi trường rừng ngày càng được lan rộng và ở một số nước thì dịch vụ môi trường rừng còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, dịch vụ môi trường rừng đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội.
Trên thế giới chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20, đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới [6]. Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng sớm nhất và chính phủ một số nước Châu Âu cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng [23]. Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về dịch vụ môi trường đã được xây dựng trên khắp toàn cầu, như: - Úc: Đã luật hóa quyền phát thải carbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng. Đang thực hiện chiến lược bồi hoàn đa dạng sinh học và chương trình bảo tồn nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động mở rộng khai thác mỏ.
Các ông ty khai thác mỏ phải thực hiện bồi hoàn lại môi trường do hoạt động khai thác mỏ gây ra bằng cách thiết lập những khu rừng mới [22]. - Chi-lê: Người dân Chi-lê đã đầu tư vào Khu Bảo tồn Tư nhân phục vụ mục đích chính là bảo tồn và điểm nghỉ dưỡng có giá trị đa dạng sinh học cao. Chi trả được thực hiện theo hình thức tự nguyện với mong muốn bổ sung thêm cho nguồn ngân sách bảo tồn sinh cảnh xung yếu của chính phủ. download by : skknchat@gmail.com 4 - Costa Rica: Luật Lâm nghiệp (được thông qua năm 1996) đã xây dựng chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái tại Costa Rica trong một nỗ lực nhằm bảo vệ các khu rừng nhiệt đới của quốc gia.
Bộ Môi trường được thành lập để thực hiện chương trình quốc gia này và đã công nhận 4 loại dịch vụ hệ sinh thái chính mà các khu rừng nhiệt đới của đất nước cung cấp [25]: • Giảm phát thải khí nhà kính • Phòng hộ đầu nguồn • Bảo tồn đa dạng sinh học • Bảo tồn vẻ đẹp cảnh quan. Cả 4 dịch vụ này tạo ra một gói dịch vụ kết hợp phản ánh giá trị sinh thái tổng hợp của một diện tích rừng, và Bộ Môi trường nhận được 10 USD/1ha/năm từ bên mua (gồm các công ty thủy điện, công ty sản xuất bia). Bộ Môi trường sử dụng nguồn thu này để thực hiện các hợp đồng có thời hạn 5 năm với các chủ đất tư nhân để chi trả trọn gói cho các dịch vụ hệ sinh thái (nước, các-bon, đa dạng sinh học và vẻ đẹp cảnh quan) được cung cấp từ nỗ lực bảo vệ rừng [6]. - Mexico: Chính phủ Mexico đã tài trợ cho một chương trình chi trả để bảo vệ rừng đầu nguồn và cung cấp dịch vụ thủy văn.
Chủ rừng ở bất cứ tiểu bang nào cũng đều có thể nộp đơn xin tham gia chương trình miễn là họ đáp ứng được các tiêu chí thực hiện. Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia đã ký hợp đồng với chủ đất và hợp đồng có thể được ký lại hàng năm trong giai đoạn 5 năm [19]. Tiền chi trả lần đầu sẽ được thanh toán trong vòng 16 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng và các lần chi trả sau sẽ được thanh toán vào cuối năm dựa vào ảnh vệ tinh và kiểm tra ngẫu nhiên tại hiện trường. Mức giá chi trả cho chủ đất do nhà nước quyết định trên cơ sở chi phí theo loại hình sử dụng đất, giả sử thu nhập từ trồng ngô là một hoạt động thay thế trên diện tích đất đó (mức giá từ 30 đến 36 USD/ha/năm) [6].
download by : skknchat@gmail.com 5 - Mỹ: Chính phủ Mỹ đóng góp đáng kể vào hoạt động chi trả hệ sinh thái được phát động bởi chính phủ trong các sáng kiến về chất lượng nước thông qua việc tài trợ 5 chương trình bảo tồn liên bang, trong đó một chương trình đầu tư vào cơ sở hạ tầng và bốn chương trình cấp độ địa phương về bảo vệ nguồn nước uống với tổng đầu tư khoảng 1,35 tỷ USD trong năm 2008 [8]. Cùng với sự gia tăng của mô hình “cộng đồng thực thi” có nghĩa là thực hiện các hoạt động nhằm tạo ra thị trường các hệ sinh thái từ những vùng đầm lầy Florida đến môi trường sống cần thiết cho cá hồi ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương để áp dụng hình thức quản lý rừng trong vùng Đông Bắc, Chính phủ Mỹ đưa ra các sáng kiến của mình nhằm góp phần đáng kể đối với việc tích lũy những bài học mới về ứng dụng các công cụ chi trả hệ sinh thái cho quản lý các dịch vụ hệ sinh thái có liên quan tới nguồn nước [8]. - Châu Phi: Tổng số chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Châu Phi là 20 với khoảng 10 chương trình đang hoạt động vào năm 2008 đem lại tổng giá trị chi trả là 62,7 triệu USD với gần 200 ngàn ha đất [8]. Hầu hết các trường hợp thực hiện ở theo các chương trình bảo tồn hệ sinh thái quốc gia, trong đó bao gồm đầu tư cho tăng cường và phục hồi các dịch vụ vùng đầu nguồn, và cải thiện năng lực cho cộng đồng địa phương nhằm xác định, hình thành và thực hiện các hoạt động quản lý gắn với hệ sinh thái [9].
- Châu Á: Chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại nhiều nước như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal…đặc biệt là Trung Quốc đã xây dựng các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng với quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp sử dụng rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ các bon và vẻ đẹp cảnh quan [6]. download by : skknchat@gmail.com 6 Số lượng và chủng loại các chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Trung Quốc đang tăng nhanh trong những năm gần đây, từ 8 chương trình năm 1999 đến hơn 47 chương trình ở năm 2008 với tổng giá trị giao dịch khoảng 7.8 tỷ USD đã tác động đến hơn 290 triệu ha đất. Các chương trình chi trả ở Trung Quốc nhằm nhằm thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong “các cơ chế đền bù sinh thái”. Một động lực tiềm năng khác cho dịch vụ sinh thái ở cả cấp tỉnh và quốc gia là từ hệ thống mới về mua bán quyền sả thải vào nước và hệ thống này có sẽ thực hiện sớm ở nhiều nơi trên toàn quốc [8].
Từ các mô hình dịch vụ môi trường rừng ở các nước cho thấy, quản lý và bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học. Dịch vụ môi trường rừng được đánh giá là một cơ chế có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ, được xem như một cơ chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì một thế giới phát triển bền vững hơn. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, hơn 10 năm qua, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường và các ứng dụng của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam. Việc sử dụng công cụ thị trường để bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần cải thiện sinh kế không phải là hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam.
Bắt đầu từ đầu những năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã bỏ ra hàng triệu đô la để chi trả cho những người dân bảo vệ rừng đầu nguồn (chủ yếu là chương trình trồng rừng theo Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661/QDD-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ). Các chương trình này kéo dài cho tới tận ngày nay, giúp bảo vệ hàng triệu ha rừng quý hiếm khỏi bị tàn phá. download by : skknchat@gmail.com 7 Gần đây, Chính phủ cũng đang rất nỗ lực để phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng và thực hiện chương trình Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng, nhằm góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do phát thải khí CO2 gây ra. Việt Nam đã được chọn là một trong 9 quốc gia được Chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc trợ giúp để xây dựng chương trình Quốc gia về giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng.
Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 quy định "tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ" và đây cũng là nguồn tài chính co công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề cập đến việc xây dựng cơ chế chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, coi đó là một trong những nguồn tài chính tiềm năng đầu tư lại trực tiếp vào rừng. Hiện tại, Quỹ Bảo tồn Hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một số dự án về các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng như bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, và du lịch sinh thái; tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển. Những dự án này được tổ chức thực hiện trong các chương trình do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Winrock International.
Ngoài ra, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển.