CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 1.Khái niệm nghiên cứu 1. Công tác xã hội Công tác xã hội ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ rất sớm, song song với định nghĩa về khoa học ứng dụng này ở các nước Châu Âu. Đây là một xu thế tất yếu của quá trình biến đổi kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia và trên Thế giới.
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (International Federation of Social Workers) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada tháng 7 năm 2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng cường quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia Mỹ (NASW) đưa ra định nghĩa CTXH cũng được định nghĩa là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đòng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân. Tại Việt Nam, CTXH được một số nhà nghiên cứu định nghĩa: là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyen tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ; qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội.
CTXH là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: Tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình… Nguyễn Thị Oanh (Đại học Mở bán công TPHCM). CTXH không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người. Đó là: An sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đòng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng 16 Thang Long University Library đồng, xã hội. Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Từ các định nghĩa trên có thế thấy, CTXH chính là sự vận dụng một cách linh hoạt những lý thuyết khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng nhằm hướng tới công bằng và tiến bộ xã hội. Công tác xã hội cá nhân Công tác xã hội cá nhân là hoạt động dịch vụ xã hội trực tiếp hướng đến các thân chủ do các nhân viên cộng đồng thực hiện. Các nhân viên này phải có các kỹ năng trong việc giải quyết các vấn đề về nguồn lực, các vấn đề về xã hội và xúc cảm. Đây là một hoạt động mang tính chuyên ngành để qua đó các nhu cầu của thân chủ được đánh giá trong các bối cảnh xã hội và quan hệ xã hội của cá nhân đó.
Nhân viên xã hội cá nhân hướng đến nâng cao sức mạnh của các thân chủ nhằm giải quyết các vấn đề và đối mặt các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của thân chủ. Các dịch vụ thông qua nhân viên xã hội bao trùm nhiều vấn đề từ việc trợ giúp về vật chất đến các vấn đề tham vấn phức hợp. (Trích từ Specht và Vickery, Integrating Social Work Methods. 1977 Allen and Unwin.
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một (nhân viên xã hội-thân chủ). Công tác xã hội cá nhân được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng trong các cơ sở xã hội hoặc trong các tổ chức công tác xã hội để giúp những người có vấn đề về thực hiện chức năng xã hội. Những vấn đề thực hiện chức năng xã hội nói đến tình trạng liên quan đến vai trò xã hội và việc thực hiện các vai trò ấy. Nhân viên Công tác xã hội Từ khái niệm CTXH ta có thể định nghĩa nhân viên CTXH là những người được đào tạo bài bản về CTXH chuyên nghiệp, tham gia vào quá trình trợ giúp cho những đối tượng có vấn đề gặp phải trong xã hội (cá nhân, nhóm, công đồng), sử dụng những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp họ phát hiện tiềm năng, tự giải quyết vấn đề và vươn lên hòa nhập xã hội một cách tích cực, bền vững.
Các nhiệm vụ của nhân viên Công tác xã hội 1- Nhiệm vụ của nhân viên CTXH được thể hiện đối với từng nhóm đối tượng cụ thể: 2- Hỗ trợ đối với trẻ em có nhu cầu và cần sự bảo vệ đặc biệt. 3- Hỗ trợ, can thiệp vấn đề của đối tượng là gia đình có vấn đề - xung đột, mâu thuẫn và khủng hoảng. 4- Hỗ trợ trẻ em có vấn đề liên quan đến pháp luật, tư pháp vị thành niên. 5- Hỗ trợ giải quyết vấn đề gặp phải của đối tượng liên quan đến tham vấn – giáo dục học đường.
6- Hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe trong hệ thống cơ sở y tế. 7- Hỗ trợ các đối tượng thuộc bảo trợ xã hội như: người già cô đơn và trẻ em không nơi đương tựa và người tàn tật. 8- Hỗ trợ giải quyết các vấn đề của cộng đồng. 9- Cứu trợ khẩn cấp và các hoạt động thuộc chương trình nhân đạo, từ thiện.
10- Nghiên cứu xã hội và tham gia hoạch định chính sách xã hội. Trẻ em Trẻ em là đối tượng được nhiều ngành khoa học nghiên cứu, đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trẻ em. Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, trẻ em vận động và phát triển theo những quy luật riêng và lứa tuổi trẻ em là một giai đoạn phát triển của con người, từ lúc lọt lòng cho tới khi trưởng thành. Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa trẻ em như sau: “Trẻ em là mọi con người dưới 18 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp 18 Thang Long University Library dụng với trẻ em được quy định tuổi thành niên sớm hơn” và khẳng định “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt”.
Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9, ngày 12-8-1991 đã thông qua toàn văn Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Sau đó, luật này đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 năm 2004 sửa đổi. Tại Điều 1 của luật này có quy định về trẻ em như sau: Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Và trong Luật trẻ em 2016 (tên gọi cũ là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em) vừa được ban hành đã đưa ra khái niệm về trẻ em như sau: Trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Về lĩnh vực lao động, tại Khoản 1, Điều 3 Bộ luật lao động 2012 có quy định như sau: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Và cũng theo quy định của pháp luật hiện nay, những trường hợp dưới 15 tuổi thì được coi là lao động trẻ em và phải tuân thủ theo quy định tại Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - thương binh và xã hội. Nếu xét về mặt hôn nhân và gia đình, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 8 trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì: Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Trong khi đó, tại Điều 18 của Bộ luật dân sự hiện hành thì: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên.
Như vậy, với nữ thì chỉ cần đủ 18 tuổi trở lên là có quyền được kết hôn, nhưng nam thì phải đợi đến đủ 20 tuổi mới được thực hiện quyền được kết hôn của mình? Vậy phải chăng đối với nam thì đến 20 tuổi mới hết là “trẻ em” ? Chỉ riêng quy định này cũng đã cho chúng ta thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuy mới được ra đời nhưng đã bộc lộ bất cập với Bộ luật dân sự ra đời cách đây 10 năm. Xét về góc độ hình sự thì tại Khoản 1, Điều 115 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định như sau: Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Như vậy, trẻ em trong trường hợp này là người dưới 16 tuổi? 19 Tại Điều 20 của Bộ luật dân sự hiện hành lại có quy định người thành niên, người chưa thành niên như sau: Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.
Như vậy, hiểu theo Luật trẻ em 2016, trẻ em là người dưới 16 tuổi. Bệnh tâm thần Bệnh tâm thần là bệnh do rối loạn hoạt động não bộ gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, hành vi, tác phong, tình cảm. Bệnh tâm thần điển hình bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn ăn uống và hành vi gây nghiện. Vấn đề sức khỏe tâm thần được gọi là bệnh tâm thần khi các dấu hiệu và triệu chứng bệnh thường xuyên gây căng thẳng, ảnh hưởng đến hoạt động sống hàng ngày.
Trong hầu hết trường hợp, triệu chứng bệnh tâm thần có thể được điều trị hiệu quả bằng sự kết hợp của thuốc và tư vấn tâm lý. Triệu chứng bệnh tâm thần có thể ảnh hưởng đến cảm xúc, suy nghĩ và hành vi. Tuy nhiên, các triệu chứng rối loạn sức khỏe tâm thần có thể xuất hiện dưới dạng bệnh lý về thể chất.