Phát triển đảng viên chức sắc, nhà tu hành Phật giáo - Học viện Báo chí

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp trong công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác phát triển đảng viên là chức sắc chức việc nhà tu hành Phật giáo

Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc kết nạp đảng viên phải đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực lãnh đạo. Đối tượng này được xem xét kết nạp khi đáp ứng đầy đủ điều kiện như có tinh thần yêu nước, tuân thủ pháp luật, tham gia tích cực vào hoạt động tôn giáo và có đóng góp cho cộng đồng. Công tác này góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cộng đồng Phật giáo, đảm bảo sự thống nhất giữa quan điểm tôn giáo và chủ trương của Đảng. Các tổ chức Phật giáo được khuyến khích phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng trong quá trình tuyển chọn và đào tạo đảng viên. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên có trình độ, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

1.1. Khái niệm và vai trò của đảng viên là chức sắc Phật giáo

Đảng viên là chức sắc Phật giáo được định nghĩa là những người tu hành có chức sắc trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ có vai trò quan trọng trong việc truyền bá giáo lý Phật giáo, đồng thời tham gia lãnh đạo, quản lý các hoạt động tôn giáo theo đường lối của Đảng. Việc phát triển đảng viên trong cộng đồng tu hành giúp tăng cường sự gắn kết giữa tôn giáo và chính trị, đảm bảo sự thống nhất về quan điểm giữa Đảng và Giáo hội. Những đảng viên này thường giữ vai trò nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, góp phần ổn định chính trị - xã hội tại các địa bàn có đông đồng bào theo Phật giáo. Họ cũng là cầu nối quan trọng giữa Đảng và cộng đồng Phật giáo, thúc đẩy sự đồng thuận trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng.

1.2. Cơ sở pháp lý và quy định về phát triển đảng viên Phật giáo

Công tác phát triển đảng viên là chức sắc Phật giáo được thực hiện dựa trên các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các nghị quyết của Đảng. Theo Điều lệ Đảng, đảng viên phải là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt. Đối với chức sắc Phật giáo, tiêu chuẩn kết nạp bao gồm việc có chức sắc trong Giáo hội, tham gia sinh hoạt tôn giáo thường xuyên và có đóng góp tích cực cho xã hội. Các quy định cũng nhấn mạnh việc bảo đảm chất lượng đảng viên, không chạy theo số lượng. Ban Tôn giáo Chính phủ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp chặt chẽ trong việc tuyển chọn, đào tạo đảng viên, đảm bảo sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị.

II. Thực trạng và những thách thức trong phát triển đảng viên Phật giáo

Thực trạng phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Theo thống kê, tỷ lệ đảng viên trong cộng đồng Phật giáo còn thấp so với số lượng tín đồ. Nguyên nhân chính bao gồm sự e ngại của một bộ phận chức sắc khi tham gia sinh hoạt Đảng, lo ngại xung đột giữa tôn giáo và chính trị. Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò của đảng viên trong cộng đồng tu hành chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu động lực tham gia. Một số tổ chức Phật giáo chưa tích cực phối hợp với cấp ủy Đảng trong công tác tuyển chọn. Ngoài ra, sự khác biệt về quan điểm giữa giáo lý Phật giáo và chủ nghĩa Mác - Lênin cũng gây ra những khó khăn nhất định. Để khắc phục, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của chức sắc, chức việc về tầm quan trọng của việc tham gia Đảng.

2.1. Những yếu tố tác động đến công tác phát triển đảng viên

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đảng viên là chức sắc Phật giáo. Thứ nhất, yếu tố tâm lý: một số chức sắc lo ngại việc tham gia Đảng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tôn giáo hoặc bị giới hạn quyền tự do tín ngưỡng. Thứ hai, yếu tố pháp lý: các quy định về kết nạp đảng viên chưa thực sự phù hợp với đặc thù của hoạt động tôn giáo. Thứ ba, yếu tố xã hội: sự thiếu hiểu biết về vai trò của đảng viên trong cộng đồng Phật giáo dẫn đến sự thờ ơ, thiếu tham gia. Thứ tư, yếu tố cơ chế: sự phối hợp giữa Giáo hội Phật giáo và cấp ủy Đảng chưa thực sự chặt chẽ, thiếu đồng bộ trong quá trình triển khai. Những yếu tố này đòi hỏi sự thay đổi trong nhận thức và cơ chế phối hợp để thúc đẩy công tác phát triển đảng viên hiệu quả.

2.2. Đánh giá thực trạng và nguyên nhân tồn tại

Hiện nay, tỷ lệ đảng viên trong cộng đồng Phật giáo còn thấp, chỉ chiếm khoảng 5-7% tổng số tín đồ. Nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu hiểu biết về vai trò của đảng viên, lo ngại xung đột giữa tôn giáo và chính trị, cũng như sự thiếu tích cực trong phối hợp giữa Giáo hội và cấp ủy Đảng. Một số chức sắc cho rằng tham gia Đảng sẽ hạn chế quyền tự do tín ngưỡng hoặc gây mất đoàn kết trong nội bộ tôn giáo. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo chưa đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, sự thiếu thống nhất trong nhận thức giữa các cấp ủy Đảng và chức sắc Phật giáo cũng là rào cản lớn. Để cải thiện tình hình, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển đảng viên Phật giáo

Để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của chức sắc về vai trò của đảng viên trong cộng đồng Phật giáo. Tiếp theo, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cấp ủy Đảng trong quá trình tuyển chọn, đào tạo đảng viên. Ngoài ra, cần điều chỉnh các quy định pháp lý cho phù hợp với đặc thù của hoạt động tôn giáo, đảm bảo sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị. Đẩy mạnh công tác vận động, thuyết phục chức sắc tham gia Đảng thông qua những ví dụ điển hình, có tác động tích cực. Cuối cùng, tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình phát triển đảng viên để đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng chạy theo số lượng.

3.1. Nâng cao nhận thức và tuyên truyền chủ trương của Đảng

Công tác tuyên truyền, giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao nhận thức của chức sắc Phật giáo về vai trò của đảng viên. Cần tổ chức các hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn nhằm phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo, đặc biệt là vai trò của đảng viên trong cộng đồng Phật giáo. Nội dung tuyên truyền cần nhấn mạnh lợi ích của việc tham gia Đảng, như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cộng đồng, góp phần ổn định chính trị - xã hội. Đồng thời, xây dựng các tài liệu hướng dẫn chi tiết về quy trình kết nạp, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp với đặc thù tôn giáo. Sự phối hợp giữa Giáo hội Phật giáo và cấp ủy Đảng trong công tác tuyên truyền sẽ giúp nâng cao hiệu quả và thu hút sự quan tâm của chức sắc.

3.2. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Đảng và Giáo hội Phật giáo

Để đảm bảo công tác phát triển đảng viên hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Đảng và Giáo hội Phật giáo. Trước hết, thành lập ban chỉ đạo liên ngành gồm đại diện cấp ủy Đảng, Giáo hội Phật giáo và các cơ quan chức năng. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, hướng dẫn triển khai công tác tuyển chọn, đào tạo đảng viên. Thứ hai, tăng cường trao đổi thông tin giữa hai bên để nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn. Thứ ba, xây dựng quy chế phối hợp trong việc giới thiệu, xét duyệt đảng viên, đảm bảo sự minh bạch, khách quan. Cuối cùng, tổ chức định kỳ đánh giá kết quả công tác, rút kinh nghiệm và đề ra giải pháp cải tiến. Cơ chế phối hợp hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng đảng viên và thúc đẩy sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng trong thực tiễn

Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo là nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong cộng đồng Phật giáo. Qua phân tích, có thể thấy rằng công tác này đang đối mặt với nhiều thách thức, từ nhận thức đến cơ chế phối hợp. Để nâng cao hiệu quả, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Đảng và Giáo hội. Ngoài ra, cần điều chỉnh các quy định pháp lý cho phù hợp với đặc thù tôn giáo, đảm bảo sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị. Việc phát triển đảng viên Phật giáo không chỉ góp phần xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực mà còn tăng cường sự đoàn kết, ổn định chính trị - xã hội. Đây là nhiệm vụ cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị và cộng đồng Phật giáo.

4.1. Tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên Phật giáo

Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo có tầm quan trọng đặc biệt trong việc củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong cộng đồng tôn giáo. Những đảng viên này không chỉ tham gia lãnh đạo, quản lý các hoạt động tôn giáo mà còn là cầu nối quan trọng giữa Đảng và đồng bào Phật giáo. Họ góp phần truyền bá chủ trương, chính sách của Đảng trong cộng đồng, thúc đẩy sự đồng thuận và đoàn kết. Ngoài ra, đảng viên Phật giáo còn đóng vai trò nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, góp phần ổn định chính trị - xã hội tại các địa bàn có đông đồng bào theo Phật giáo. Sự tham gia của họ vào Đảng cũng thể hiện sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị, tăng cường sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

4.2. Đề xuất giải pháp ứng dụng trong thực tiễn

Để ứng dụng hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên Phật giáo, trước hết cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức của chức sắc về vai trò của đảng viên. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội Phật giáo và cấp ủy Đảng thông qua việc thành lập ban chỉ đạo liên ngành. Điều chỉnh các quy định pháp lý cho phù hợp với đặc thù tôn giáo, đảm bảo sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá định kỳ để kịp thời điều chỉnh, cải tiến công tác. Sự tham gia của cả hệ thống chính trị và cộng đồng Phật giáo là yếu tố quyết định thành công của công tác này. Các giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm để đạt hiệu quả cao nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Công tác phát triển đảng viên là chức sắc chức việc nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Công tác phát triển đảng viên trong tổ chức giáo hội phật giáo việt nam – một số vấn đề lý luận; Chương 2. Công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH phật giáo ở việt nam hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm; Chương 3. Phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở việt nam thời gian tới. 14 Chƣơng 1 CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.

Quan niệm, vai trò, đặc điểm của công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức viêc, nhà tu hành Phật giáo 1. Một số thuật ngữ/khái niệm liên quan 1. Công tác phát triển đảng viên Công tác phát triển đảng viên được hiểu bao gồm công tác phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu và kết nạp đảng viên. Cốt cán trong tôn giáo Theo Kết luận số 08-KL/TW năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương, khái niệm về Cốt cán trong tôn giáo được hiểu như sau: Cốt cán trong tôn giáo: là đảng viên, công chức, viên chức có tôn giáo trong hệ thống chính trị; là chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, được các tổ chức trong hệ thống chính trị, các lực lượng vũ trang lựa chọn, bồi dưỡng, xây dựng thành những người nòng cốt trong công tác vận động chức sắc, tín đồ, tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Cốt cán tôn giáo có 2 loại: - Cốt cán phong trào: Được lựa chọn, xây dựng trong đội ngũ đảng viên có đạo, những người có đạo tham gia trong các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền nhà nước, trong ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) và Ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; chức sắc, nhà tu hành, chức 15 việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, những người có uy tín, gương mẫu, cũng có thể là người ngoài đạo nhưng có uy tín thuyết phục đối với đồng bào có đạo, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước. - Cốt cán đặc thù trong tôn giáo (hay cốt cán cơ sở chính trị - “C”): Là những người được lựa chọn, xây dựng trong đội ngũ chức sẳc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, những người có uy tín trong tôn giáo, hoạt động theo quy định của tổ chức đảng. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức tôn giáo Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo [25] chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức tôn giáo được quy định như sau: - Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. - Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức.

- Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo. - Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận. - Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, CSCVNTH của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [25, 27]. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Hiến chương GHPGVN, chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo được quy định như sau: - Chức sắc là tín đồ Phật giáo được tổ chức GHPGVN phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức GHPGVN [25] như: Đại Đức, 16 Thượng Tọa, Hòa Thượng (Tăng), Ni cô, Sư cô, Ni sư (Sư Bà-Ni) [19].

- Chức việc là người được tổ chức GHPGVN bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức [25], như: Hội đồng Chứng minh gồm: Pháp chủ, Phó Pháp chủ, Giám Luật, Thư ký, Phó Thư ký, Ủy viên Thường trực.Hội đồng Trị sự gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký, Ban Tăng sự, Ban Ni sự, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Từ thiện xã hội, Ban Thông tin Truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học, Thủ quỹ [19]… - Nhà tu hành là tín đồ Phật giáo xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức GHPGVN [19]. Quan niệm công tác phát triển đảng viên Đảng viên, theo cách hiểu thông dụng nhất, là một cá nhân tham gia vào một đảng phái chính trị (còn gọi là chính đảng) nào đó. Để trở thành đảng viên của một chính đảng, cá nhân đó phải thừa nhận tôn chỉ, mục đích cũng như các quy định về trách nhiệm, quyền hạn của chính đảng đó. Theo cách hiểu thông dụng này, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là người gia nhập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời sinh hoạt tại tổ chức này.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay đảng viên (do ở Việt Nam hiện nay chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất được Hiến pháp thừa nhận) là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong nhiều trường hợp dùng thuật ngữ đảng viên để phân biệt với quần chúng (người ngoài Đảng). Đảng viên là người tự nguyện xin gia nhập và được kết nạp vào Đảng sinh hoạt và hoạt động trong một TCCSĐ. Do những điều kiện đặc thù về tổ chức và hoạt động trong từng thời kỳ lãnh đạo cách mạng mà tiêu chuẩn, nhiệm vụ, tên gọi và việc công nhận là đảng viên của Đảng có sự linh hoạt nhất định. Hiện nay, đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của 17 giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Đảng viên được phân chia thành theo hai cách: Thứ nhất, theo tư cách thành viên trong Đảng, gồm có: đảng viên chính thức và đảng viên dự bị. Đảng viên chính thức có nhiệm vụ và quyền được quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Điệu lệ Đảng (năm 2011); đảng viên dự bị có các nhiệm vụ và quyền như đảng viên chính thức, trừ nhiệm vụ giới thiệu người vào đảng; các quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng và giới thiệu người vào đảng. Để trở thành đảng viên chính thức, đảng viên dự bị phải trải qua thời gian dự bị là 12 tháng, tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp. Điều kiện để trở thành đảng viên: phải là công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một TCCSĐ; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, sau đó được giới thiệu kết nạp, thử thách, xét kết nạp vào Đảng, sinh hoạt đảng và xét công nhận đảng viên chính thức.

Ở nước ta, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện gắn liền với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ những người đảng viên đầu tiên cho đến nay số lượng hơn 5 triệu đảng viên. Ở Việt Nam, thì từ đảng viên được đa số hiểu là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam do chỉ có Đảng cộng sản tồn tại hợp pháp và lãnh đạo Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi được kết nạp vào Đảng, thì người đảng viên phải là người 18 thừa nhận và thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, suốt đời phấn đấu vì mục đích lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, phải gắn bó chặt chẽ với Đảng bằng việc tự mình tham gia vào một tổ chức của Đảng, hoạt động và chịu sự quản lý của tổ chức đó. Người đảng viên phải gương mẫu trong hành động cách mạng, là người đi đầu, có năng lực tuyên truyền, giáo dục và lôi cuốn quần chúng, phải không ngừng học tập về mọi mặt, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của bản thân nhằm đáp ứng được yêu cầu được phân công.

“Đảng viên” là tên gọi để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới tiên phong nhất, ưu tú nhất, sẵn sàng hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tại Chương I, Điều lệ của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga, V.Lênin khẳng định: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng và ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mình tham gia vào một trong những tổ chức của Đảng, thì được coi là đảng viên của Đảng”. Theo “Từ điển tiếng Việt” có đưa ra khái niệm “đảng viên” như sau: Đảng viên chính là người đứng trong một tổ chức của một chính đảng. Khi Đảng chính trị ra đời thì có đảng viên.

Mỗi một Đảng chính trị ra đời là có đảng viên, nếu như không có đảng viên - thành phần quan trọng cốt lõi nhất thì không được gọi là Đảng chính trị. Tại Điều 1, Chương I của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (1/2011) khẳng định: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của 19 Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng [13, 18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ