Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1996-2010) 1. Công tác báo chí của Đảng giai đoạn đầu đổi mới 1. Sự nghiệp đổi mới với công tác báo chí của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12- 1986) trở thành mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới của Việt Nam. Nghị quyết Đại hội xác định: ''đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực'', ''trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế'', ''giữ vững ổn định chính trị là tiền đề để bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới''.
Đại hội VI khẳng định quyết tâm tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Từ Đại hội này, Đảng đã đặt ra vấn đề đổi mới toàn diện, trước hết, trên lĩnh vực quản lý kinh tế và sản xuất. Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới XHCN. Những mục tiêu cụ thể được đặt ra gồm: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất, xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới, tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội, bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt. trong đó có đổi mới báo chí. Vấn đề đổi mới báo chí cũng theo luồng gió đổi mới sau Đại hội Đảng lần thứ VI được đặt ra hết sức quyết liệt. Hội nghị thường kỳ BCH Hội Nhà 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com báo Việt Nam cuối năm 1986 nhằm tiếp thu các quan điểm mới của Trung ương về dự thảo Báo cáo chính trị và nội dung tuyên truyền của báo chí phục vụ Đại hội VI của Đảng.
Một trong những trọng tâm của Hội nghị BCH Hội Nhà báo Việt Nam là quán triệt tinh thần chỉ đạo, đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực công tác, trước hết là trên lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, trong đó có công tác báo chí. Đây là lần đầu tiên, vấn đề đổi mới báo chí được nêu ra một cách thẳng thắn và quyết tâm trong hội nghị thường kỳ của Hội Nhà báo. Hội nghị nhấn mạnh: phải đổi mới tư duy, đổi mới phong cách, đổi mới tổ chức và cán bộ trong báo chí mới có thể tiến kịp sự phát triển của cách mạng và báo chí mới phát huy được đầy đủ chức năng là công cụ của Đảng, là cầu nối liền giữa Đảng với quần chúng. Tại Đại hội lần thứ V Hội Nhà báo Việt Nam (10-1989), vấn đề đổi mới báo chí đã được đánh giá cụ thể và có tầm chiến lược.
Với tiêu đề Đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới của đất nước của BCH khóa IV tại Đại hội đã khẳng định sự phát triển của báo chí thể hiện rõ qua phong trào đổi mới báo chí phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nước. Từ những thành tựu và khuyết điểm của báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới, Đại hội V đã đưa ra quan điểm đổi mới báo chí: Báo chí thể hiện tiếng nói của Đảng, đồng thời là diễn đàn của nhân dân; sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí; mở rộng dân chủ với tinh thần dân chủ trong báo chí. Có thể nói tư tưởng lấy dân làm gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của Đảng đã thực sự thấm sâu vào quá trình đổi mới báo chí. Ngày 20-1-1990, Quốc hội đã thông qua và chính thức công bố Luật Báo chí mới.
Luật Báo chí thể hiện trung thực những bước đi về những quan điểm cơ bản trong công cuộc đổi mới báo chí của Đảng và Nhà nước cũng như ý nguyện của toàn dân. Luật Báo chí xác định, dù là cơ quan thông tin, ngôn luận của bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng là diễn đàn của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngôn luận trên báo chí và để phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng.
Quyền thông tin và quyền được tự do thông tin của nhân dân đã được thể hiện trong Luật Báo chí. Có thể nói Luật Báo chí năm 1990 đã thể hiện khá trung thực những bước tiến quan trọng về tư duy của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới báo chí cũng như ý nguyện của toàn dân. Luật Báo chí ra đời cũng chính do sự phát triển nội tại của báo chí Việt Nam, là kết quả của cả một quá trình tự vận động để đổi mới báo chí, đóng góp vào công cuộc chung của toàn đất nước ở thời điểm đó. Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 63-CT/TW, ngày 25-7-1990 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản.
Có thể nói rằng, đây là văn kiện quan trọng đầu tiên nêu rõ nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí; đồng thời, xác định các công việc mà Đảng, Nhà nước cần thực hiện để lãnh đạo, quản lý báo chí; trách nhiệm của cơ quan chủ quản; trách nhiệm, quyền hạn của người phụ trách cơ quan báo chí và việc thành lập các tổ chức đảng trong các cơ quan báo chí. Từ cụ thế các công việc của chủ thể lãnh đạo, quản lý (Đảng và Nhà nước) đến khách thể lãnh đạo, quản lý (các cơ quan báo chí), Chỉ thị số 63-CT/TW khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí cũng như chỉ ra các công việc cụ thể cần tiến hành để thực hiện sự lãnh đạo này. Đại hội VII của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991). Trong cương lĩnh, phần nói về báo chí, Đảng ta khẳng định : “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân.
Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích” [ 2, tr. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp báo chí, ngày 31-3-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 08-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo và quản 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản. Chỉ thị số 08- CT/TW ghi nhận những ưu điểm, thành tích của báo chí, xuất bản, đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém của lĩnh vực công tác này trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới. Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) ra Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 18-2-1995 về Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng.
Trong đó, Đảng yêu cầu phải: nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí; coi trọng công tác bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ phụ trách báo chí, nắm vững và chủ động thực hiện đúng đắn, sáng tạo các định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng; đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng, tiêu cực, chống âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Thành tựu của báo chí cách mạng Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996) Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng đã tạo ra những bước phát triển mới cho báo chí. Có thể nói, thời kỳ đổi mới đất nước là thời kỳ có điều kiện tốt nhất, phát triển mạnh mẽ nhất của báo chí Việt Nam, cả về số lượng, chất lượng, loại hình báo chí và đội ngũ những người làm báo, phong phú về nội dung và cái nhìn đa chiều của báo chí trước những vấn đề lớn của đất nước và thế giới. Đây chính là thời điểm mà báo chí Việt Nam bắt đầu tiếp cận với nền báo chí hiện đại với việc từng bước xóa bỏ bao cấp, phát triển đa dạng, mạnh mẽ các loại hình báo chí.
Trước hết, báo chí có sự phát triển nhanh về số lượng ấn phẩm, loại hình, không ngừng nâng cao chất lượng và hình thức của các loại hình báo chí. Trước năm 1986, cả nước mới có gần 100 đơn vị báo chí; trong đó, chỉ có 4 tờ báo ra hằng ngày, 2 đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam. Số ấn phẩm, thời lượng, chương trình phát sóng, nhìn chung, rất hạn chế. Hầu hết các đơn vị báo ngành, đoàn thể ra từ một đến hai kỳ/tuần; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng phát hành ít, trừ báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, các tờ báo khác chủ yếu phát hành trang nội bộ.
Sự bùng nổ của báo chí bắt đầu từ năm 1986, đặc biệt là từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Cả nước đã có tới 687 cơ quan báo chí, bao gồm 172 báo, 448 tạp chí; 67 đài phát thanh, truyền hình (2 đài quốc gia) với hơn 803 ấn phẩm, sản phẩm báo chí; hơn 600 đài truyền thanh huyện; 88 báo điện tử, trên 2.000 bản tin; số bản in đạt gần 800 triệu/năm, bình quân xấp xỉ 9 bản/người/năm. Đến năm 1997, cả nước đã có 450 đơn vị báo chí với 563 ấn phẩm các loại gồm 153 tờ báo, 290 tạp chí, phát hành 565 triệu bản/năm [63,tr. Về loại hình, báo chí điện tử ra đời và phát triển đã đưa lại sự hoàn chỉnh cho hệ thống báo nước ta với 4 loại hình: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử trên mạng internet.
Đội ngũ báo chí điện tử, báo chí trực tuyến phát triển mạnh mẽ cùng với các nhà cung cấp dịch vụ internet tạo nên một mạng thông tin báo chí điện tử sôi động có sức thu hút hàng triệu lượt người truy cập hằng ngày, với 17 trang website phát trên mạng internet. Cả nước 2 đài phát thanh và truyền hình quốc gia, hơn chục đài phát thanh và truyền hình khu vực, 64 đài phát thanh, truyền hình ở các tỉnh, thành phố.