Chương I: Những điều chỉnh chính sách của ngành công nghiệp sau khi gia nhập WTO Trong chƣơng này sẽ tổng hợp lại những điều chỉnh chính sách đối với ngành công nghiệp Trung Quốc từ khi gia nhập WTO đến nay. Chương II: Thực trạng ngành công nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Trong chƣơng II sẽ chủ yếu phân tích tình hình thực tế của ngành công nghiệp Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO đến nay. Trong đó bao gồm những kết quả, thành tựu mà ngành công nghiệp đạt đƣợc và một số vấn đề còn tồn tại, gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới. Đây đƣợc coi là chƣơng chính của luận văn.
Chương III: Những giải pháp, triển vọng phát triển ngành công nghiệp và một số kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo Trong chƣơng này sẽ đƣa ra những biện pháp khắc phục những tồn tại đối với công nghiệp của chính phủ Trung Quốc, những triển vọng của ngành công nghiệp trong thời gian tới; đồng thời cũng đƣa ra một số kinh nghiệm có thể gợi mở cho Việt Nam tham khảo trong quá trình xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Do hạn chế về mặt kiến thức, về năng lực nghiên cứu khoa học, về tƣ liệu nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong các thầy cô và các bạn chỉ bảo, đóng góp ý kiến để em có thể rút kinh nghiệm và có cơ hội bổ sung nâng cao chất lƣợng luận văn hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2008 Học viên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vương Thị Tri Túc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN B: NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO đến nay đã đƣợc bảy năm.
Bảy năm gia nhập WTO có thể coi là thời kỳ phát triển nhanh & mạnh nhất của nền kinh tế Trung Quốc kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa. Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa năm 1978, tổng giá trị sản xuất quốc nội của năm bắt đầu mở cửa mới đạt 364,5 tỷ NDT nhƣng con số này của năm 2007 đã là 24 953 tỷ NDT tức là gấp khoảng 68 lần [83,tr1]. Trong đó từ năm 1978 đến năm 1986, mức tăng chỉ là 1000 tỷ NDT mà phải mất 8 năm, từ năm 2001 trở đi – năm bắt đầu gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, bình quân mỗi năm tăng 1000 tỷ NDT, từ năm 2002-2006 con số này còn tiếp tục tăng mạnh khoảng 2000 tỷ NDT mỗi năm và đến năm 2007 tổng giá trị sản xuất quốc nội đã đạt 3760 tỷ NDT [83, tr1]. Theo đó ngành công nghiệp – một chủ thể lớn của nền kinh tế cũng có những bƣớc phát triển vƣợt bậc và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho nền kinh tế quốc dân.
Năng lực sản xuất của ngành công nghiệp đã tăng nhanh vƣợt bậc. Giá trị tăng trƣởng của ngành công nghiệp năm 2007 đã vƣợt qua con số 10000 tỷ NDT, tăng gấp 23 lần so với năm 1978 [83, tr7]. Khi gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, Trung Quốc đã có rất nhiều cam kết (khoảng 700 cam kết) chủ yếu tập trung vào bảy nhóm ngành lớn, trong đó về công nghiệp có hai nhóm ngành lớn là công nghiệp ô tô và năng lƣợng – dầu mỏ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với ngành công nghiệp sản xuất ô tô: từ ngày 01-01-2002 Trung Quốc phải cắt giảm gần 1/3 thuế đối với các loại ô tô nhập khẩu.
Với các loại xe trên 3000 phân khối, mức thuế sẽ giảm từ 80% xuống còn 50,7%. Thuế nhập khẩu với loại xe dƣới 3000 phân khối giảm từ 70% xuống còn 43,8%. Năm 2006 mức thuế nhập khẩu xe hơi là 25%, thuế cho các linh kiện phụ tùng của xe giảm từ 23,4% xuống 10% [1, tr 168]. Với ngành năng lƣợng – dầu mỏ: Trung Quốc phải mở cửa ngành dầu thô và chế biến dầu cho tƣ nhân thông qua việc giảm dần đặc quyền mua bán dầu.
Sau ba năm gia nhập WTO, Trung Quốc mở cửa lĩnh vực phân phối và bán lẻ các sản phẩm từ dầu và năng lƣợng. Sau năm năm sẽ tiến hành mở cửa bán buôn với các sản phẩm này [1, tr 187]. Để thực hiện những cam kết khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã nỗ lực điều chỉnh các luật và quy định theo nguyên tắc tôn trọng các nguyên tắc của WTO. Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi, điều chỉnh và xây dựng hàng loạt các quy định văn bản đối với mọi ngành nghề.
Riêng với ngành công nghiệp, chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng trong việc điều chỉnh những chính sách phù hợp nhằm theo kịp xu hƣớng phát triển chung của công nghiệp thế giới mà không vi phạm các nguyên tắc của WTO, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của đất nƣớc. Có thể khái quát một cách cơ bản những điều chỉnh chính sách công nghiệp thực hiện những cam kết với WTO nhƣ sau [2, tr 229]: + Với các ngành tập trung lao động, tăng nhanh đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng và đẳng cấp sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng. + Đẩy mạnh phát triển các ngành tập trung kỹ thuật và các ngành công nghệ cao, mới; giảm tỷ trọng công nghiệp chế biến thông thường, đào thải những ngành kỹ thuật lạc hậu, không có lợi thế về tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Với các ngành tập trung vốn và kỹ thuật nhưng không có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh yếu, chủ động nhập khẩu kỹ thuật, hợp tác với nước ngoài, nhằm “đổi thị trường lấy vốn và kĩ thuật”.
+ Điều chỉnh chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành trọng điểm, khuyến khích các công ty xuyên quốc gia tăng vốn đầu tư. + Những biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Trung Quốc không phù hợp với biện pháp bảo hộ mậu dịch của WTO cũng dần được xóa bỏ. CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH VỚI CÁC NGÀNH TẬP TRUNG LAO ĐỘNG Với các ngành tập trung nhiều sức lao động nhƣ ngành may mặc, thuộc da, các sản phẩm chế biến công nghiệp. chính phủ Trung Quốc luôn đƣa ra các chủ trƣơng đầu tƣ phát triển khoa học kĩ thuật, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới trang thiết bị máy móc nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm và đẳng cấp sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng.
Có chính sách hỗ trợ trong việc đẩy nhanh mặt bằng trang thiết bị, các thiết bị kĩ thuật nhập khẩu phục vụ cho các ngành trọng điểm sẽ đƣợc hỗ trợ về mặt tài chính. Căn cứ vào giá trị sử dụng, cứ một triệu USD thì đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ 30 nghìn NDT [85, tr 2]. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc rất chú trọng nâng cao thƣơng hiệu sản phẩm bằng cách tổ chức các hội nghị, cuộc thi nhằm tạo ra sự cạnh tranh một cách lành mạnh và công bằng đối với tất cả các doanh nghiệp. Từ năm 2001 đến nay, Trung Quốc thực hiện chiến lƣợc thƣơng hiệu nổi tiếng đã đƣợc 7 năm, “Báo công nghiệp Trung Quốc” đƣợc chỉ định là phƣơng tiện thông tin tuyên truyền cho việc bình chọn sản phẩm thƣơng hiệu nổi tiếng Trung Quốc, đã thực hiện tuyên truyền có hiệu quả đối với 1957 sản phẩm thƣơng hiệu nổi tiếng Trung Quốc và hơn 10 sản phẩm thƣơng hiệu nổi tiếng thế giới của Trung Quốc.
Mức độ cống hiến của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thƣơng hiệu nổi tiếng Trung Quốc đối với tăng trƣởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt trên 25%. Năm 2007 đã có 856 sản phẩm của 787 doanh nghiệp đƣợc bình chọn là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản phẩm thƣơng hiệu nổi tiếng Trung Quốc [78, tr 3]. Rất nhiều thƣơng hiệu sản phẩm của Trung Quốc đã đứng vững trên thị trƣờng quốc tế nhƣ thƣơng hiệu TCL (hãng chuyên sản xuất ti vi), thƣơng hiệu Qisheng (hãng chuyên sản xuất đầu đọc đĩa VCD và DVD). Chính phủ Trung Quốc cũng đã cho thành lập Uỷ ban bình chọn giải thƣởng công nghiệp Trung Quốc và đƣợc sự phê chuẩn của Uỷ ban tổ chức giải thƣởng công nghiệp Trung Quốc, quyết định trao giải thƣởng tôn vinh giải thƣởng công nghiệp cho các doanh nghiệp công nghiệp có thành tích lớn trong những năm qua.
Hàng năm Uỷ ban này đều công bố danh sách các doanh nghiệp mạnh của Trung Quốc. Nhà nƣớc đặc biệt khuyến khích đầu tƣ chi phí cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp, sản phẩm. Theo đó có cơ chế đối với việc nghiên cứu các mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thƣơng hiệu sản phẩm. có sự khuyến khích ủng hộ về mặt ngân sách nhằm khuyến khích năng lực sáng tạo của toàn bộ nhân viên doanh nghiệp.
CHÍNH SÁCH CHÚ TRỌNG NGÀNH KỸ THUẬT CAO, MỚI Sau khi gia nhập WTO, theo tinh thần của Đại hội XVI của Đảng cộng sản Trung Quốc, Trung Quốc chủ trƣơng đi theo con đƣờng công nghiệp hóa kiểu mới, ra sức thực hiện chiến lƣợc “dựa vào khoa học, giáo dục để chấn hƣng đất nƣớc” và chiến lƣợc phát triển bền vững [2, tr 40]. Do đó trong suốt giai đoạn vừa qua, Trung Quốc không ngừng thực hiện các chính sách đổi mới với các ngành nghề tập trung kỹ thuật và ngành công nghệ cao, mới. Đối với một số ngành tập trung kỹ thuật, Trung Quốc chủ trƣơng phát triển trọng điểm ngành điện tử tin học, vật liệu mới, ngành y dƣợc, sinh học. Với các dự án tiên tiến phù hợp với danh mục sản phẩm kỹ thuật cao, kỹ thuật mới quốc gia mà kim ngạch đầu tƣ thiết bị từ 5 triệu NDT trở lên thì có thể đƣợc hỗ trợ tài chính 3% theo tổng mức đầu tƣ thiết bị sau khi hoàn công nghiệm thu [85, tr 2].
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính phủ Trung Quốc cũng đã xây dựng và có những chuyển hƣớng cho việc đầu tƣ và phát triển ngành kỹ thuật cao một cách toàn diện. Có thể phân thành chính sách mang tính quản lý và mang tính duy trì và phát triển ngành kỹ thuật cao [31, tr 325]. Chính sách mang tính quản lý phát triển ngành sản xuất kĩ thuật cao hiện đại bao gồm các chính sách do cơ quan chính phủ quy hoạch và chỉ đạo nhƣ: chính sách bố trí phát triển sản xuất kĩ thuật cao hiện đại, chính sách về cơ cấu kết cấu phát triển sản xuất kĩ thuật cao hiện đại, chính sách về tổ chức phát triển sản xuất kĩ thuật cao hiện đại.