Tổng quan luận án

Luận án nghiên cứu đề tài "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản ở Khánh Hòa", thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số 05.01), được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội năm 1997 dưới sự hướng dẫn khoa học của PTS. Lê Thức. Công trình tiếp cận vấn đề phát triển ngành thủy sản dưới góc độ lý luận và thực tiễn của kinh tế chính trị học trong giai đoạn bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, xác định mục tiêu CNH, HĐH nhằm xây dựng đất nước có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý và quan hệ sản xuất tiến bộ. Đối với Khánh Hòa, đây là một tỉnh duyên hải miền Trung sở hữu ba thế mạnh kinh tế then chốt: công nghiệp, thủy sản và du lịch. Mặc dù là địa phương có đóng góp ngân sách nhà nước ở mức cao, Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu vẫn chưa khai thác tương xứng tiềm năng kinh tế biển; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản còn thô sơ, lạc hậu. Do đó, việc đẩy mạnh CNH, HĐH ngành thủy sản là yêu cầu cấp bách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội địa phương. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiến trình CNH, HĐH ngành thủy sản ở cấp độ một tỉnh ven biển dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị.

Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1960 đến năm 1996 của nước ta và kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới (NICs/NIEs).
  2. Nghiên cứu, phân tích thực trạng của ngành thủy sản ở Khánh Hòa và tính cấp thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của ngành.
  3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn CNH, HĐH ở nước ta và thực trạng ngành thủy sản Khánh Hòa, đề xuất những giải pháp cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản ở Khánh Hòa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa, đặt trong mối liên hệ với đường lối CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam và kinh nghiệm CNH từ các nền kinh tế công nghiệp mới.
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa, liên hệ với bối cảnh kinh tế biển cả nước và so sánh với một số nền kinh tế khu vực Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore).
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu tiến trình đường lối CNH từ năm 1960 đến năm 1996 (từ Đại hội Đảng lần thứ III đến Đại hội Đảng lần thứ VIII), tập trung phân tích thực trạng giai đoạn Đổi mới (1986–1996) và định hướng mục tiêu phát triển đến năm 2000.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại và kế thừa hệ thống tư liệu lý luận, văn kiện chính trị và các công trình nghiên cứu thực tiễn liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

  • Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982), Đại hội VI (1986), Đại hội VIII (1996); các văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01/1994) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 07/1994) về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH.
  • Cơ sở tư liệu quốc tế: Tài liệu của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) tổng hợp 128 định nghĩa về công nghiệp hóa; các tư liệu phân tích kinh tế về mô hình phát triển của các nền kinh tế công nghiệp mới Châu Á (NICs/NIEs) gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và kinh nghiệm của Nhật Bản; dữ liệu so sánh phân phối thu nhập giữa các nền kinh tế Đông Á với Mexico.
  • Cơ sở pháp lý và văn bản định hướng ngành: Nghị quyết số 03 của Bộ Chính trị về việc khai thác tiềm năng kinh tế biển; Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 05/12/1977 về các vùng biển và thềm lục địa; Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các tài liệu trước đó hoặc tiếp cận CNH, HĐH ở tầm vĩ mô toàn quốc, hoặc tiếp cận ngành thủy sản thuần túy ở góc độ kỹ thuật khai thác - nuôi trồng của khoa học sinh học, công nghệ chế biến. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào việc vận dụng các quy luật kinh tế chính trị học để luận giải tính tất yếu, nội dung, tiền đề và hệ thống giải pháp CNH, HĐH cho một ngành kinh tế kỹ thuật cụ thể là thủy sản tại một địa bàn đặc thù là tỉnh Khánh Hòa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

  • Quan điểm của K. Marx (C. Mác) về phát triển lực lượng sản xuất: Điều chủ yếu phân biệt các thời đại kinh tế không phải là ở chỗ sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Thực chất của công nghiệp hóa là sự phát triển công nghệ, biến đổi nền sản xuất xã hội từ kỹ thuật thủ công lạc hậu sang lao động cơ khí hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
  • Khái niệm CNH, HĐH theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1994): Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
  • Khung phân tích kinh tế chính trị: Phân tích cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất; quy luật hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ gắn với kinh tế mở); quy luật tích lũy vốn dựa trên giá trị thặng dư và phân công lao động xã hội; vai trò của nhân tố con người và mối quan hệ quản lý nhà nước trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chú trọng phương pháp lịch sử - cụ thể để phân tích tiến trình đường lối CNH qua từng giai đoạn lịch sử của Việt Nam (1960–1975, 1976–1985, 1986–1996).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, kết hợp kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp thống kê kinh tế: Sử dụng kỹ thuật thu thập, xử lý số liệu, lập bảng biểu thống kê để so sánh tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và năng lực sản xuất của ngành công nghiệp và thủy sản.

Nguồn dữ liệu: Văn kiện Đại hội Đảng; số liệu thống kê kinh tế quốc dân giai đoạn 1960–1995; số liệu ngành thủy sản toàn quốc và số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa đến năm 1996.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế nói chung và ngành thuỷ sản nói riêng

Chương 1 gồm hai phần nội dung lớn, tập trung giải quyết các cơ sở lý luận về CNH, HĐH và đúc kết thực tiễn đường lối CNH tại Việt Nam cùng bài học kinh nghiệm quốc tế.

Về mặt lý luận: Tác giả phân tích 128 định nghĩa của UNIDO, phân loại thành ba nhóm giác độ nhận thức: (1) CNH là quá trình từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, chuyển dịch từ khai thác sang chế biến; (2) CNH là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn; (3) CNH là quá trình cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến để đạt năng suất cao. Luận án khẳng định trong thời đại ngày nay, CNH không thể tách rời HĐH. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại bao gồm tự động hóa, năng lượng mới (nguyên tử, mặt trời, sức gió), vật liệu mới nhân tạo, công nghệ sinh học và cách mạng thông tin/điện tử - tin học đòi hỏi các nước đi sau phải kết hợp giữa phát triển tuần tự và "đi tắt, đón đầu".

Luận án chỉ ra hai tiền đề quyết định để tiến hành CNH:

  1. Tạo nguồn vốn tích lũy: Nguồn gốc cơ bản từ lao động thặng dư thông qua việc nâng cao năng suất lao động. Vốn trong nước giữ vai trò quyết định (thông qua phân bố lại lực lượng lao động dồi dào, thực hiện chính sách tiết kiệm xem như quốc sách, đa dạng hóa ngành nghề hàng tiêu dùng). Vốn nước ngoài giữ vai trò rất quan trọng (thông qua hợp tác, liên doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay vốn ưu đãi dài hạn, mở rộng ngoại thương và cải cách hành chính, hoàn thiện cơ sở hạ tầng).
  2. Đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề, coi giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.

Về vai trò ngành thủy sản: Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, diện tích vùng đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km², hơn 1 triệu ha eo vịnh, đầm phá, bãi bồi. Thủy sản là ngành kinh tế - kỹ thuật cung cấp thực phẩm, nguyên liệu công nghiệp và hàng hóa xuất khẩu. Tại Khánh Hòa, thủy sản là thế mạnh trên cả ba mặt: đánh bắt, nuôi trồng và chế biến.

Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật ngành thủy sản và kinh tế Khánh Hòa Giá trị / Hiện trạng nêu trong văn bản
Số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản toàn tỉnh Hơn 5.000 tàu thuyền các loại
Tổng công suất tàu thuyền 85 (nghìn mã lực)
Tỷ lệ dân số toàn tỉnh sống nhờ vào ngư nghiệp Gần 1/10 dân số
Số lượng cơ sở chế biến thủy sản (quốc doanh và ngoài quốc doanh) Hơn 60 cơ sở khá quy mô
Doanh số toàn ngành thủy sản Khánh Hòa giai đoạn trước Trên dưới 2 tỷ đồng/năm
Doanh số toàn ngành thủy sản Khánh Hòa năm 1996 Hơn 40 tỷ đồng
Mục tiêu phấn đấu doanh số năm 1997 50 tỷ đồng
Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 1997 Khoảng 50 triệu USD
Tỷ trọng ngành Nông lâm nghiệp trong cơ cấu GDP Khánh Hòa năm 1995 17,00%
Tỷ trọng ngành Xây dựng trong cơ cấu GDP Khánh Hòa năm 1995 7,02%
Tỷ trọng các ngành khác trong cơ cấu GDP Khánh Hòa năm 1995 37,65%

Về thực tiễn quan điểm CNH ở Việt Nam qua các thời kỳ:

  • Giai đoạn 1960–1975 (Đại hội III): Xác định CNH xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, đường lối ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Ngành sản xuất công nghiệp miền Bắc Chỉ số tăng trưởng năm 1965 so với năm 1960
Điện lực Tăng 3,43 lần
Công nghiệp khai thác Tăng 2,31 lần
Khai thác và chế biến gỗ Tăng 2,29 lần
Dệt, da, may, nhuộm Tăng 1,62 lần
Vật liệu xây dựng Tăng 1,58 lần
Nhiên liệu Tăng 1,48 lần
Toàn ngành công nghiệp (Trung ương và địa phương) Tăng 2,4 lần

Đến năm 1975, toàn ngành công nghiệp miền Bắc với 11,7% lao động trong khu vực sản xuất vật chất đã tạo ra 41,5% tổng sản phẩm xã hội, 27,9% thu nhập quốc dân và 55% giá trị tổng sản lượng công - nông nghiệp; tỷ lệ dân số đô thị tăng từ 10,2% (1965) lên 12,3% (1975). Giai đoạn 1965–1974, công nhân kỹ thuật có trình độ trung cấp tăng 2,8 lần, cán bộ trình độ đại học tăng 5,4 lần. Tuy nhiên, mô hình giai đoạn này bộc lộ nhược điểm: mang tính chất khép kín, tập trung vốn vào công trình lớn kém hiệu quả, công nghệ thiết bị phụ thuộc chưa đạt chuẩn thế giới, cơ chế quản lý mệnh lệnh kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp.

  • Giai đoạn 1976–1985 (Đại hội IV và Đại hội V): Đại hội IV tiếp tục chủ trương ưu tiên công nghiệp nặng nhưng do chủ quan, nóng vội và bối cảnh chiến tranh biên giới nên giai đoạn 1976–1980 lâm vào trì trệ. Đại hội V (1982) điều chỉnh, xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1984 tăng hơn 20% so với năm 1978. Dẫu vậy, sai lầm trong cải tạo công thương nghiệp và cuộc khủng hoảng giá - lương - tiền cuối năm 1985 đã đẩy nền kinh tế vào suy thoái trầm trọng.
  • Thời kỳ Đổi mới 1986–1996: Đại hội VI (1986) chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Giai đoạn 1986–1990, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 5,2%/năm, lạm phát ba con số bị đẩy lùi. Tính đến năm 1992, công nghiệp sử dụng khoảng 12% lao động xã hội, tạo 40,3% tổng sản phẩm xã hội; xuất khẩu năm 1992 đạt 2,2 tỷ USD.
Quốc gia / Vùng lãnh thổ Năm ghi nhận Kim ngạch xuất khẩu
Việt Nam 1992 2,2 tỷ USD
Thái Lan 1989 20,0 tỷ USD
Singapore 1989 47,0 tỷ USD
Đài Loan 1989 66,2 tỷ USD

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (1994) đã hoàn thiện hệ thống 6 quan điểm CNH, HĐH: (1) CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu; (3) CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; (4) Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; (5) Khoa học và công nghệ là nền tảng của CNH, HĐH, kết hợp công nghệ truyền thống với hiện đại; (6) Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển và lựa chọn dự án đầu tư. Mục tiêu đề ra: phấn đấu tăng GDP gấp 2 đến 2,5 lần so với năm 1990, nông nghiệp tăng 13–15%, đưa tỷ trọng công nghiệp trong GDP lên khoảng 30% vào năm 2000.

Đại hội VIII (1996) tổng kết giai đoạn 1991–1995: GDP tăng trưởng bình quân 8,2%/năm, công nghiệp tăng 13%/năm, nông nghiệp tăng 4,5%/năm. Mục tiêu của ngành thủy sản toàn quốc đến năm 2000 đạt mức 18–20 kg sản phẩm thủy sản/người/năm, đóng góp vào mục tiêu GDP bình quân 400–500 USD/người/năm.

Về kinh nghiệm CNH ở các nước NIEs: Luận án nghiên cứu các nền kinh tế Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore) với các nhân tố thành công: (1) Chú trọng vốn con người thông qua đầu tư ngân sách lớn cho giáo dục và đào tạo; (2) Thực hiện chính sách kinh tế hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến có chất lượng cao; (3) Vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý, định hướng hạ tầng của Nhà nước (thể hiện rõ nét ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan); (4) Khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số; (5) Giữ vững ổn định chính trị và thực hiện chính sách xã hội thu hẹp khoảng cách giàu nghèo (ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, 20% dân số giàu nhất chiếm 40–45% thu nhập quốc dân, thấp hơn nhiều so với mức 60% của Mexico).

Chương 2: Hiện trạng và những giải pháp cơ bản để công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản ở Khánh Hoà

Dựa trên cấu trúc chương mục và các số liệu được công trình trình bày, nội dung Chương 2 tập trung phân tích thực trạng ngành và xây dựng các nhóm giải pháp trọng tâm:

Về hiện trạng ngành thủy sản Khánh Hòa:

  • Điều kiện địa lý tự nhiên: Khánh Hòa sở hữu bờ biển dài, nhiều vũng, vịnh kín gió (vịnh Nha Trang, Cam Ranh, Vân Phong), đầm phá và hải đảo, tạo địa bàn thuận lợi cho cả ba phân ngành: nuôi trồng nước lợ, nước mặn; khai thác hải sản xa bờ, gần bờ; và công nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh, đồ hộp.
  • Thực trạng công nghiệp hóa ngành: Ngành đã có sự phát triển ban đầu với hơn 5.000 tàu thuyền, song phần lớn có công suất nhỏ, đánh bắt ven bờ là chủ yếu, gây áp lực suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ; trang bị máy móc, ngư cụ dò tìm cá, liên lạc viễn thông còn thiếu thốn. Hệ thống chế biến có hơn 60 cơ sở nhưng công nghệ chế biến sâu chưa phát triển, tỷ trọng xuất khẩu bán nguyên liệu thô hoặc sơ chế còn cao, giá trị gia tăng chưa tương xứng. Doanh số toàn ngành đạt hơn 40 tỷ đồng năm 1996, phấn đấu 50 tỷ đồng năm 1997. Lực lượng lao động ngư nghiệp chiếm gần 1/10 dân số tỉnh nhưng phần lớn chưa qua đào tạo kỹ thuật, trình độ học vấn và tay nghề công nhân hạn chế.

Về các giải pháp cơ bản đẩy mạnh CNH, HĐH ngành thủy sản Khánh Hòa:

  1. Điều tra, quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp thủy sản và vùng ven bờ: Tổ chức điều tra trữ lượng nguồn lợi hải sản; cơ cấu lại nghề cá theo hướng giảm dần nghề cào, giã cào phá hủy môi trường ven bờ, chuyển dịch mạnh sang khai thác xa bờ; quy hoạch mặt nước eo vịnh cho nuôi trồng hải sản đặc sản (tôm sú, cá lồng bè, rong biển) gắn với bảo vệ sinh thái.
  2. Đầu tư vốn và kỹ thuật - công nghệ: Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư (ngân sách tỉnh, tín dụng ưu đãi, vốn tự có của ngư dân, vốn liên doanh nước ngoài); cơ giới hóa và hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ; đầu tư dây chuyền cấp đông, chế biến hiện đại đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu (hướng tới chỉ tiêu 50 triệu USD).
  3. Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật chuyên ngành thủy sản, bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế thị trường cho cán bộ điều hành doanh nghiệp; mở các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi trồng, bảo quản sau thu hoạch và vận hành máy móc cho ngư dân, công nhân chế biến.
  4. Mở rộng thị trường: Tổ chức tốt mạng lưới tiêu thụ nội địa, mở rộng giao lưu hàng hóa với các tỉnh Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung; xúc tiến thương mại, xây dựng bạn hàng xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường quốc tế có giá trị cao.
  5. Phát huy vai trò của UBND tỉnh và Sở Thủy sản Khánh Hòa: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về quy hoạch, ban hành cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào thủy sản; cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư và hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn được luận án tự xác định bao gồm:

  1. Luận án là một trong số ít công trình khoa học nghiên cứu vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản ở cấp độ một tỉnh dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị.
  2. Công trình đóng góp vào việc điều tra, đánh giá thực trạng và chứng minh tính cấp thiết khách quan phải đẩy mạnh CNH, HĐH ngành thủy sản – một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Khánh Hòa trong thời kỳ Đổi mới.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp cơ bản có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH ngành thủy sản Khánh Hòa, tạo cơ sở giúp chính quyền địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển.

Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất chính quyền tỉnh và ngành thủy sản Khánh Hòa cần:

  • Chuyển dịch cơ cấu khai thác từ ven bờ sang xa bờ gắn với đổi mới công nghệ tàu thuyền;
  • Coi trọng khâu chế biến xuất khẩu có giá trị gia tăng cao thay vì sơ chế thô;
  • Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nghề cá và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước của Sở Thủy sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Phạm vi tư liệu và số liệu thực tiễn bị giới hạn tại mốc thời gian hoàn thành luận án (năm 1997), phản ánh chủ yếu giai đoạn đầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (1986–1996), chưa có điều kiện kiểm chứng thực tế việc thực hiện các chỉ tiêu đề ra cho năm 1997 và giai đoạn 1996–2000.
  • Do tiếp cận thuần túy từ góc độ kinh tế chính trị học, luận án tập trung vào các vấn đề quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế và chính sách quản lý vĩ mô, không đi sâu vào các thông số kỹ thuật sinh học chuyên ngành (trữ lượng sinh khối cụ thể từng loài cá, công nghệ gen giống) hay các mô hình kiểm định kinh tế lượng định lượng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát, đối chiếu chuỗi số liệu thực tế phát triển của ngành thủy sản Khánh Hòa sau năm 1997 để đánh giá mức độ đạt được của các chỉ tiêu doanh số và kim ngạch xuất khẩu.
  • Nghiên cứu sâu hơn về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái biển, nguồn lợi thủy sản bền vững và giải quyết việc làm cho lao động ngư nghiệp ven bờ trong bối cảnh hiện đại hóa đội tàu đánh bắt.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Lịch sử kinh tế: Luận án cung cấp bức tranh hệ thống hóa về quá trình biến đổi tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội III đến Đại hội VIII), đặc biệt là việc làm rõ 6 quan điểm chỉ đạo CNH, HĐH tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VII.
  • Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp - thủy sản, cơ quan tham mưu chính sách tại tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh ven biển miền Trung: Luận án gợi mở phương pháp luận tiếp cận CNH, HĐH một ngành kinh tế mũi nhọn tại địa phương, gắn quy hoạch ngành nghề ven bờ với đầu tư công nghệ chế biến và chính sách đào tạo nhân lực biển.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu lịch sử công nghiệp miền Bắc giai đoạn 1960–1965; phân tích 5 bài học rút ra từ mô hình phát triển của các nền kinh tế NIEs Châu Á; và khung giải pháp phân công quản lý của UBND tỉnh, Sở Thủy sản trong tổ chức thực hiện CNH cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa được luận án sử dụng theo định nghĩa chuẩn nào?
Luận án căn cứ vào định nghĩa chính thức tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 7/1994). Theo đó, CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ để đạt năng suất lao động xã hội cao.

2. Công nghiệp miền Bắc giai đoạn 1960–1965 đã đạt được những chỉ số phát triển nào theo số liệu luận án?
Theo số liệu trích dẫn trong luận án, so với năm 1960, toàn ngành công nghiệp miền Bắc năm 1965 tăng 2,4 lần. Cụ thể từng ngành: điện lực tăng 3,43 lần; công nghiệp khai thác tăng 2,31 lần; khai thác và chế biến gỗ tăng 2,29 lần; dệt, da, may, nhuộm tăng 1,62 lần; vật liệu xây dựng tăng 1,58 lần; và nhiên liệu tăng 1,48 lần.

3. Ngành thủy sản Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu (năm 1996–1997) có quy mô và chỉ tiêu kinh tế ra sao?
Văn bản nêu rõ: Toàn tỉnh có hơn 5.000 tàu thuyền các loại với tổng công suất 85 nghìn mã lực; gần 1/10 dân số sống nhờ ngư nghiệp; có hơn 60 cơ sở chế biến quy mô. Doanh số toàn ngành trước đây chỉ đạt trên dưới 2 tỷ đồng/năm, đến năm 1996 đã vượt mức 40 tỷ đồng; năm 1997 đề ra chỉ tiêu đạt 50 tỷ đồng doanh số và kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 50 triệu USD.

4. Theo tổng kết của luận án, các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Châu Á thành công nhờ những nhân tố chủ yếu nào?
Luận án khái quát 5 nhân tố cốt lõi: (1) Nguồn vốn con người tốt do đặc biệt coi trọng giáo dục và đào tạo; (2) Chính sách hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến chất lượng cao; (3) Vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý, định hướng hạ tầng chặt chẽ của Nhà nước; (4) Khống chế thành công tốc độ tăng dân số; (5) Giữ vững ổn định chính trị và thực hiện chính sách xã hội giảm bớt bất bình đẳng thu nhập.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để CNH, HĐH ngành thủy sản Khánh Hòa?
Công trình đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Điều tra trữ lượng, quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ven bờ; (2) Đầu tư vốn và kỹ thuật - công nghệ tiên tiến; (3) Phát triển nguồn nhân lực (cán bộ kỹ thuật, quản lý và thợ lành nghề); (4) Mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; (5) Tăng cường vai trò tổ chức, quản lý của UBND tỉnh và Sở Thủy sản Khánh Hòa.

Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình đường lối CNH của Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1996. Dựa trên phân tích điều kiện tự nhiên, năng lực tàu thuyền, cơ sở chế biến và thị trường, tác giả khẳng định tính tất yếu khách quan của việc CNH, HĐH ngành thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ven bờ, huy động vốn, đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của địa phương. Công trình cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật về phương diện kinh tế chính trị học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển cấp tỉnh trong thời kỳ Đổi mới.