Chương 1 trình bày tổng quan về các kỹ thuật ứng dụng trong chẩn đoán điều trị xơ gan; Chương 2 tìm hiểu sâu hơn về kỹ thuật siêu âm đàn hồi mô; và Chương 3 nghiên cứu về công nghệ FibroScan và ứng dụng trong điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. TỔNG QUAN VỀ CÁC KỸ THUẬT ỨNG DỤNG TRONG CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ BỆNH XƠ GAN 1. Giới thiệu chung về bệnh xơ gan 1. Xơ gan là gì? Xơ gan là một bệnh gan mạn tính được đặc trưng bởi sự thay thế mô gan bằng mô xơ, sẹo và sự thành lập các nốt tân sinh dẫn đến mất chức năng gan [1], [2], [3].
Các nguyên nhân thường gây ra xơ gan bao gồm nghiện rượu, viêm gan siêu vi B và C, và bệnh gan nhiễm mỡ. Xơ hóa gan được phân ra nhiều cấp độ từ nhẹ đến nặng với các triệu chứng và tỉ lệ chữa khỏi khác nhau. Theo phân loại Metavir trên mô học của giải phẫu bệnh, các giai đoạn xơ hóa gan bao gồm: F0 (không có xơ hóa), F1 (xơ hóa khoảng cửa), F2 (xơ hóa khoảng cửa với vài cầu nối), F3 (xơ hóa bắt cầu), F4 (xơ gan) [4]. Và có bốn mức độ xơ hóa gan như sau: - Không xơ hóa hay xơ hóa nhẹ khi bệnh nhân ở giai đoạn: F0, F1 - Xơ hóa đáng kể (significant fibrosis) khi: ≥ F2 (F2 đến F4) - Xơ hóa tiến triển (advanced fibrosis) khi: ≥ F3 (F3 đến F4) - Xơ gan (cirrhosis): F4.
Các giai đoạn xơ gan được thể hiện ở Hình 1-1 dưới đây. Không giãn tĩnh Xơ gan còn bù Giai đoạn 1 mạch Không Ascites Có sự giãn tĩnh Giai đoạn 2 mạch Không Ascites TỬ VONG Xơ gan mất bù Giãn tĩnh mạch ± Giai đoạn 3 Ascites Giai đoạn 4 Chảy máu ± Ascites Hình 1-1. Các giai đoạn xơ gan [5]. Các giai đoạn của xơ gan Gan bình thường Tích tụ mỡ trong tế bào gan, không bong tế Nhiễm mỡ đơn giản bào gan, không xơ hóa Nhiễm mỡ ồ ạt với các dấu hiệu của tổn NASH/ xơ hóa thương tế bào gan: viêm, thoái hóa bóng có hoặc không có xơ hóa, và thỉnh thoảng có thể Mallory.
Trong vòng 10-20 năm, nó có thể tiến triển thành xơ gan. Bệnh gan giai đoạn cuối, trong đó hầu hết Bệnh xơ gan các tế bào gan được thay thế bằng collagen. Cầu nối vách ngăn, tái tạo nốt sùi. Gan mất khả năng tái tạo hoặc chữa trị (suy Bệnh ung thư gan gan), cần thay thế Hình 1-2.
Các giai đoạn chuyển biến từ gan bình thường đến ung thư gan [6]. Giai đoạn 1 Giai đoạn đầu tiên này người bệnh ít xuất hiện những biểu hiện bệnh lý bởi nó xuất hiện cực kì mờ nhạt. Tuy nhiên, gan đã bắt đầu bị viêm. Do các tế bào gan bị viêm liên tục nên gan tự cố gắng đảo ngược lại quá trình này và hình thành sự xơ hóa.
Các mô sẹo xơ hóa mới bắt đầu hình thành, gây nên những triệu chứng như mệt mỏi, sụt cân, buồn nôn, chán ăn, rối loạn tiêu hóa thông thường. Mặc dù gan bị tổn thương nhưng bệnh nhân thường không có dấu hiệu đáng chú ý vì sự xơ hóa là chưa nhiều. Giai đoạn này dễ bị bỏ qua hoặc lầm tưởng là biểu hiện của bệnh khác. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, nếu được điều trị đúng cách gan vẫn có thể hồi phục và trở lại như bình thường.
Giai đoạn 2 Lúc này xuất hiện nhiều hơn các mô sẹo, mô xơ hóa trong gan người bệnh có thể nhìn thấy rõ nét hơn. Lượng tế bào mô xơ giai đoạn này tăng lên rất nhiều, làm gan bị suy yếu chức năng rõ rệt, chất độc bị ứ đọng, không được thải ra ngoài khiến các cơ quan khác bị tác động gây rối loạn các chuyển 4 hóa trong cơ thể. Triệu chứng điển hình của giai đoạn này là hiện tượng vàng da. Giai đoạn 3 Xơ hóa gan giai đoạn 3 đã làm gan bị rối loạn chức năng gan một phần bởi lượng tế bào gan bị thay thế bằng các mô xơ hóa chiếm chủ yếu.
Độ xơ hóa gan F3 cao hơn nhiều so với xơ hóa gan F2 làm gan mất đi hầu hết chức năng. Các tế bào gan bình thường còn lại sẽ phải làm việc nhiều hơn, thay thế cho phần tế bào gan bị xơ dẫn đến việc quá tải, chất độc ứ đọng ngày càng nhiều khiến tế bào gan dần bị tổn thương và chuyển sang giai đoạn xơ hóa. Những triệu chứng khá rõ rệt như: người bệnh cảm thấy đau mỏi cơ thể, xuất hiện phù nề tay chân và dần dần lan rộng ra toàn cơ thể. Giai đoạn 4 Bước vào giai đoạn này, quá trình xơ hóa đã xảy ra hoàn toàn trên gan.
Tế bào gan bị tổn thương hoàn toàn, bệnh gan đã tiến triển đến giai đoạn cuối, gan không còn chức năng, bệnh ngày càng có những diễn biến xấu hơn. Người bệnh phải đối mặt với những triệu chứng bệnh lý khác hay các biểu CÁC GIAI ĐOẠN TỔN THƯƠNG GAN Giai đoạn 0 (F0) Không bị xơ hóa (sẹo) hoặc tổn thương gan Giai đoạn 1 (F1) Bắt đầu có tổn thương gan: tổn thương đã bắt đầu với một số sẹo nhẹ Giai đoạn 2 (F2) Tổn thương gan trung bình: sẹo tiến triển ở gan và các mạch máu xung quanh Giai đoạn 3 (F3) Tổn thương gan đáng kể: gan trở nên xơ hóa (có sẹo) và kết nối với các vùng bị sẹo khác Giai đoạn 4 (F4) Giai đoạn cuối của tổn thương gan hay còn gọi là xơ gan: gan bị tổn thương nghiêm trọng và không còn hoạt động bình thường Hình 1-3. Hình ảnh các giai đoạn xơ gan từ F0 đến F4. 5 hiện của những biến chứng xơ gan gây nên.
Các biến chứng bao gồm như xuất huyết tiêu hóa, bệnh não gan hay tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Nếu những dấu hiệu này không được phát hiện thì bệnh nhân cũng sẽ không thể tiến hành ghép gan. Xơ hóa gan F4 là giai đoạn nguy hiểm nhất, thời gian sống cho bệnh nhân sẽ vào khoảng 12 tháng. Do không có phương pháp điều trị cho xơ gan giai đoạn 4, cách tốt nhất là điều trị sớm nhất có thể.
Điều trị bệnh xơ gan Xơ gan được chia làm hai loại: xơ gan còn bù và xơ gan mất bù: - Xơ gan còn bù: Là giai đoạn đầu của bệnh xơ gan, lúc này gan vẫn còn chức năng khá tốt mặc dù đã hình thành các node sẹo của gan. Cơ thể có thể biểu hiện các triệu chứng lâm sàng một cách mờ nhạt; - Xơ gan mất bù: Là giai đoạn cuối của xơ gan (xơ gan cổ trướng). Lúc này cấu trúc của gan đã bị hư hỏng nặng nề và gây rối loạn chức năng gan của cơ thể. Bệnh nhân xơ gan mất bù có thể phát triển thành ung thư gan, biểu hiện nhiều triệu chứng nghiêm trọng và đe dọa tính mạng.
Hình ảnh xơ gan còn bù và xơ gan mất bù. 6 Điều trị bệnh xơ gan phụ thuộc vào tình trạng tổn thương gan của bệnh nhân. Mục tiêu của việc điều trị là làm chậm quá trình xơ quá tại gan, giảm triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng của xơ gan. Bệnh nhân có thể nằm viện dài ngày nếu tổn thương gan nặng.
Điều trị bệnh xơ gan thường theo nguyên nhân gây bệnh. Nếu tại giai đoạn sớm của xơ gan, giảm thiểu tối đa tổn thương tại gan là mục tiêu hàng đầu. Bỏ rượu bia để điều trị bệnh xơ gan hiệu quả. - Điều trị xơ gan do rượu: Bệnh nhân mắc xơ gan do uống quá nhiều rượu nên dừng việc uống rượu.
Nếu việc ngừng uống rượu là quá khó đối với bệnh nhân, bác sĩ có thể tư vấn liệu trình cai rượu. - Giảm cân: Nếu bệnh nhân xơ gan không do rượu mà do gan nhiễm mỡ, tình trạng bệnh có thể cải thiện nếu bệnh nhân giảm được cân và kiểm soát được lượng đường huyết. - Thuốc điều trị bệnh gan: Một số thuốc có thể làm ngăn ngừa quá trình tổn thương tế bào gan do viêm gan B và viêm gan C. - Thuốc kiểm soát triệu chứng xơ gan: Một số thuốc có thể làm chậm quá trình diễn biến bệnh xơ gan.
Bệnh xơ gan hay xảy ra biến chứng. Một số biến chứng thường gặp: 7 - Dịch cơ thể tăng cao: Chế độ ăn ít Natri và thuốc có thể ngăn ngừa việc tăng dịch trong cơ thể để kiểm soát phù. Chọc dịch ổ bụng có thể được sử dụng đến nếu bệnh nhân phù quá nặng. - Tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
- Nhiễm trùng: Kháng sinh sẽ được sử dụng cho bệnh nhân bị nhiễm trùng. - Nguy cơ phát triển thành ung thư gan. Điều trị biến chứng trên nền bệnh nhân xơ gan rất phức tạp và đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị cũng như làm tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ghép gan cho bệnh nhân nếu tình trạng bệnh quá nặng.
Nhưng việc tìm ra người hiến gan phù hợp là rất khó khăn, chưa kể đến tình trạng xã hội Việt Nam vẫn rất dè dặt trong việc hiến nội tạng.Việc để các bệnh lý về gan phát triển thành bệnh xơ gan là việc rất nguy hiểm và gây rất nhiều khó khăn cho các bác sĩ để điều trị. Cách tốt nhất là phát hiện sớm về điều trị triệt để các vấn đề về gan khi còn chưa phát triển quá nhanh. Sự cần thiết đánh giá xơ hóa gan Xơ hóa gan thường là hậu quả của một quá trình bệnh gan mãn tính do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó đáng chú ý là virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV), rượu bia là hay gặp, ngoài ra có thể do viêm gan do thoái hóa mỡ, do ứ sắt, viêm gan tự miễn, do dùng thuốc gây độc cho gan… [7], [8], [9], [10]. Chẩn đoán sớm các mức độ xơ hóa gan và xơ gan góp phần rất quan trọng trong phòng ngừa các biến chứng chết người của bệnh gan: Đó là các biến chứng của xơ gan mất bù và ung thư gan.
Điều trị sớm cho bệnh nhân ở giai đoạn xơ hoá gan đáng kể có thể làm thoái triển diễn tiến đến xơ hoá gan nặng và xơ gan. Tuy nhiên, chẩn đoán xơ gan còn bù rất khó khăn vì bệnh nhân thường không có triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm chức năng gan thường bình thường. Vì vậy, đánh giá mức độ xơ hóa gan rất cần thiết trong: 8 a. Đánh giá mức độ bệnh: Tình trạng bệnh như thế nào, nặng nhẹ ra sao Tầm quan trọng của trị số độ cứng gan (LSM) trong xơ gan 13 - 75 kPA Độ cứng của gan (LSM) EV: esophageal varices (giãn tĩnh mạch thực quản) Hình 1-6.
Xác định tổn thương gan để đánh giá mức độ bệnh [11].