Phần mở đầu, phần kết luận,cấu trúc luận văn được chia làm 3 chương. Chƣơng 1: Đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt ở Đức, thông qua việc phân tích cơ sở hình thành của cộng đồng cũng như khái lược về tình hình của cộngđồng trước năm 1990. Bàn về chính sách cho người nước ngoài sống tại Đức của Đức và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với NVONN nói chung qua từng giai đoạn. Chƣơng 2: Nghiên cứu bối cảnh quốc tế và khu vực, những biến động trong phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của hai nước tác động đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức sau năm 1990 và khái quát đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa và chính trị của cộng đồng người Việt ở Đức.
Từ đó chỉ ra các đặc tính riêng biệt của cộng đồng người Việt tại Đức. Chƣơng 3: Đánh giá khái lược tổng thể về vai trò của cộng đồng người Việt ở Đức đối với nước Đức, đối với Việt Nam, cũng như đối với quan hệ song phương giữa hai nước, cả ở khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực. Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng người Việt tại Đức. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ Sở HÌNH THÀNH VÀ CÁC YếU Tố TÁC ĐộNG TớI CộNG ĐỒNG NGƢờI VIệT NAMở CộNG HOÀ LIÊN BANG ĐứC 1.1Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Liên bang Đức Việt Nam và CHLB Đức thiết lập quan hệ chính thức ngày 23/09/1975.
Trước đó, Việt Nam đã có mối quan hệ tốt đẹp, khăng khít với Cộng hòa Dân chủ Đức kể từ năm 1955. Trong thời kì đất nước bị chia cắt, sự giúp đỡ và viện trợ của Cộng hòa Dân chủ Đức đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa hết sức to lớn. Sau khi đất nước được thống nhất, quan hệ giữa hai nước phát triển với nhiều dự án hợp tác có quy mô lớn hơn. Các dự án hợp tác chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực lâm nghiệp và xuất khẩu lao động Việt Nam sang làm việc tại Cộng hòa Dân chủ Đức4.
Cộng hòa Dân chủ Đức bắt đầu mời sinh viên Việt Nam tham dự các chương trình học tập và đào tạo ở Đông Đức vào đầu những năm 1950; hợp tác mở rộng vào năm 1973 sau khi cam kết đào tạo thêm 10.000 công dân Việt Nam trong 10 năm tiếp theo. Năm 1980, Cộng hòa Dân chủ Đức ký một thỏa thuận với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thống nhất cho phép các doanh nghiệp ở Đông Đức đào tạo cho người Việt Nam; từ năm 1987 đến năm 19895. Chính phủ Đông Đức xem các chương trình thực tập này không chỉ là một phương tiện để tăng nguồn cung lao động cho ngành công nghiệp địa phương, mà còn là viện trợ phát triển cho các thành viên nghèo hơn của khối xã hội chủ nghĩa. Đối với CHLB Đức, trên thực tế mối quan hệ giữa hai quốc gia bị đóng băng trong nhiều năm do khác biệt về hệ tư tưởng và việc Việt Nam bị cấm vận.
Quan 4 Phạm Quang Minh (2005), Quan hệ Việt - Đức: Quá khứ và hiện tại, Tạp chí khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và nhân văn, T XXI, số 1-2005, tr26-27 5 Bui, Pipo (2004), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: Ethnic Stigma, Immigrant Origin Narratives and Partial Masking, Berlin/Hamburg/Münster: LIT Verlag 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hê ̣ hai nước cũng căng thẳ ng trong mô ̣t vài nă m vì những xung đột về hợp đồng xuấ t khẩ u lao đô ̣ng. Tuy nhiên, tấ t cả dầ n đươ ̣c giải quyế t thông qua đàm phán. Kể từ sau khi nước Đức thống nhất đến nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và Đức là mối quan hệ hợp tác cùng phát triển. Trên cơ sở đó, tháng 10 năm 2011, hai nước kí tuyên bố Hà Nội, nâng tầm quan hệ lên thành quan hệ đối tác chiến lược.
Quan hệ đối tác chiến lược là mối quan hệ lâu dài, hợp tác cùng có lợi mà không cần có sự ràng buộc về an ninh - quân sự. Khuôn khổ của mối quan hệ này đa dạng phong phú về thành phần, nội dung, hình thức, mức độ, dựa trên mục tiêu cụ thể và sang kiến thông qua các cuộc gặp gỡ, giao lưu cấp cao giữa hai quốc gia6. Năm lĩnh vực hợp tác then chốt được nêu rõ trong Tuyên bố chung Hà Nội gồm: Hợp tác chính trị chiến lược; Thương mại và đầu tư; Tư pháp và pháp luật; Phát triển và bảo vệ môi trường; Giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội7. Về hợp tác chính trị, hai nước hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong các cơ chế đa phương như Liên Hợp Quốc, ASEM, EU-ASEAN.
Đức hỗ trợ Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO. Việt Nam và Đức chia sẻ mối quan tâm trong hầu hết các vấn đề quốc tế quan trọng như toàn cầu hóa, chống khủng bố, cải cách Liên Hợp quốc. Hợp tác song phương cũng được chú trọng với các cuộc viếng thăm thường xuyên, ở nhiều cấp bậc giữa lãnh đạo hai nước. Quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai quốc gia phát triển nhanh chóng và là động lực chủ yếu thúc đẩy quan hệ song phương.
Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại Châu Âu, chiếm khoảng 28% tổng kinh ngạch xuất khẩu 6 Lê Thế Mẫu(2016), Nhận diện quan hệ đối tác chiến lược trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. 7 Tuyên bố chung giữa Việt Nam và CHLB Đức ký tại Hà Nội ngày 11/10/2011 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Việt Nam sang các nước thuộc EU8. Trong 7 tháng đầu năm 2017 kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Đức đạt 5,44 tỷ USD (tăng 9,9% so với 7 tháng đầu năm 2016)9. Việt Nam được Đức xếp hạng đối tác thương mại thứ 40/144 nước xuất khẩu hàng hoá vào Đức, hạng 55/144 nước nhập khẩu hàng hoá từ Đức và hạng 47/144 nước đối tác thương mại chính trên kim ngạch hai chiều10.
Dù vậy, Đức hiện vẫn áp dụng các rào cản thương mại theo tiêu chuẩn chung của EUvới Việt Nam. Mối quan hệ đầu tư giữa hai quốc gia chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai bên. Tính đến hết tháng 4/2017, có 285 dự án của Đức tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,4 tỷ USD, đứng thứ 5 trong Liên minh châu Âu (EU) và thứ 20/116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam11. Đầu tư của Đức chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ bán lẻ, công nghệ phần mềm, thông tin truyền thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm.
Một trọng tâm khác trong quan hệ giữa hai quốc gia là hợp tác giáo dục. Điển hình là Trường Đại học Việt - Đức, được thành lập từ tháng 9/2008 tại Tp. Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ tích cực của Tổ chức DAAD và Bang Hessen (Đức). Trường hoạt động theo mô hình của đại học Đức và đạt chuẩn quốc tế về chất lượng12.
Bên cạnh đó, hợp tác phát triển Việt Nam - Đức được thực hiện chủ yếu bởi hai tổ chức là KFW và GIZ, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: đào tạo nghề 8 Chử Thị Nhuần (2012), Quan hệ Việt Nam- CHLB Đức và vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Đức, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 11-2012, tr83-84 9 Vinanet (2017), Kim ngạch thương mại song phương Việt – Đức tăng trưởng gần 10%, http://vinanet.vn/thuong- mai-cha/kim-ngach-thuong-mai-song-phuong-viet-duc-tang-truong-gan-10-678356.html, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017 10 Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2016), Hồ sơ thị trường Đức 11 Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2016), Hồ sơ thị trường Đức 12 Dân trí (2013), ĐH công lập Việt - Đức sau 5 năm thành lập và phát triển, http://dantri.vn/giao-duc-khuyen- hoc/dh-cong-lap-viet-duc-sau-5-nam-thanh-lap-va-phat-trien-1387395279.htm, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tóm lại, trong suốt 40 năm qua, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong thời gian tới, hai nước sẽ thúc đẩy quan hệ song phương phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của mỗi quốc gia.
Mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Đức là điều kiện nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng người Việt ở Đức. Cộng đồng người Việt tại đây chịu tác động trực tiếp không chỉ bởi chính sách chính trị nội bộ của Việt Nam hoặc Đức mà còn chịu tác động từ chính quan hệ song phương giữa hai quốc gia.Khi mối quan hệ này phát triển theo hướng tích cực, cộng đồng người Việt ở Đức sẽ trở thành nhân tố được cả hai nước coi trọng, nhận được sự hỗ trợ và quan tâm của cả hai chính phủ. Nếu xem xét ở khía cạnh ngoại giao và kinh tế, có thể dễ dàng nhận thấy số lượng chuyến thăm và tiếp xúc của lãnh đạo hai nước với cộng đồng người Việt ở Đức tăng lên nhanh chóng, tỉ lệ thuận với sự phát triển của quan hệ song phương Việt Nam- Đức. Từ đó, cộng đồng người Việt có cơ hội để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và chính kiến với chính quyền của nước sở tại cũng như Việt Nam.
Ở khía cạnh kinh tế, do hợp tác kinh tế là nền tảng và động lực cho quan hệ giữa hai quốc gia, cộng đồng người Việt có cơ hội và được hỗ trợ để đầu tư ở Việt Nam cũng như kinh doanh buôn bán ở Đức, đồng thời là cầu nối cho doanh nghiệp của hai nước. Các ảnh hưởng của quan hệ song phương Việt- Đức tới các khía cạnh khác của cộng đồng người Việt như văn hóa, giáo dục khó có thể đánh giá trong ngắn hạn mà chỉ có thể xem xét trong dài hạn. Tuy nhiên, với ảnh hưởng tích cực từ lợi ích chính trị và kinh tế mà cộng đồng người Việt ở Đức có 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được từ quan hệ song phương phát triển tích cực của hai quốc gia, rõ ràng, điều này kéo theo sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng người Việt ở Đức.2 Cộng đồng ngƣời Việt ở Đức trƣớc năm 1990 Lịch sử của cộng đồng người Việt ở Đức bắt đầu ngay từ năm 1953 khi nhóm lưu học sinh đầu tiên của Việt Nam gồm 5 người đã được cử sang Cộng hòa Dân chủ Đức học tập. Khoảng 150 trẻ em người Việt ở độ tuổi từ 9 tới 14 (những đứa trẻ Moritzburg13) tới Đông Đức vào năm 1955 để đi học phổ thông và học nghề14.