Chương 1: Cở sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chương 2: Thiết kế và tổ chức nghiên cứu Chương 3: Kết quả tự đánh giá năng lực dạy học của GV tiểu học Kết luận, kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp giáo viên Hội đồng Châu Âu (2012) cho rằng nghề dạy học ngày nay phải đối mặt với nhiều thách thức, yêu cầu cần phải có một khung năng lực mới đối với giáo viên.
Trong thế kỉ XXI, để GV có thể giảng đạt hiệu quả thì phía Hội đồng Châu Âu (2012) đã đề xuất khung năng lực của giáo viên gồm 3 nhóm nội dung chính là: Kiến thức và sự am hiểu; Kỹ năng; và khuynh hướng: thái độ, niềm tin, giá trị và cam kết. Cùng với quan điểm trên, Viện Giáo dục Quốc gia và cơ sở đào tạo giáo viên của Singapore đã tiến hành nghiên cứu để đề xuất mô hình VSK (Values – Skills – Knowledge) mô tả các đặc điểm mà một giáo viên cần có. Bên cạnh đó, Viện Giáo dục ở Singapore cũng cho rằng “người học thế kỉ XXI cần giáo viên của thế kỉ XXI - những người không chỉ sở hữu khả năng đọc viết của thế kỉ XXI mà còn có khả năng tạo ra môi trường học tập cho phép học sinh phát triển các kĩ năng của thế kỉ XXI. Giáo viên Singapore cần phải có khả năng thích ứng, sẵn sàng học tập, tự tin đối phó với các vấn đề không có giải pháp rõ ràng.
Họ cần làm việc hiệu quả với những người khác chủng tộc, quốc tịch và có khả năng giao tiếp hiệu quả”. Khung mô hình VSK này được thể hiện ở 3 yếu tố giá trị của giáo viên: (i) Giá trị lấy người học làm trung tâm: Đặc điểm cần có đầu tiên của giáo viên là dành sự quan tâm của mình cho người học ở vị trí trung tâm và hãy tin rằng mọi đứa trẻ đều có thể học được. Quá trình đào tạo GV sẽ nhấn mạnh đến việc giáo viên cần nhận thức được tính cách cá nhân riêng lẻ của người học. (ii) Đặc tính của GV: Giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng cần có trách nhiệm giáo dục với trẻ em, cần thể hiện được các tiêu chuẩn cao nghề nghiệp và sự nỗ lực học tập.
(iii) Phục vụ nghề nghiệp và cộng đồng: GV luôn cần học hỏi những 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người đi trước và luôn nhiệt tình sẵn sàng cố vấn cho những người khác ở giai đoạn sau trong sự nghiệp giáo dục. Họ cần có ý thức đóng góp công sức của bản thân, có trách nhiệm với sự phát triển của cộng đồng trong tương lai. Trong nghiên cứu của SIREP, các chuyên gia về đào tạo giáo viên được giao nhiệm vụ tham dự hội thảo và tham gia vào một loạt các hoạt động thảo luận nhóm và phân tích đánh giá. Dựa trên tiếp cận phân tích đáp ứng và thích ứng nghề theo mô hình DACUM (Development a Curriculum) các chuyên gia SEAMEO đề xuất 11 nhóm năng lực giáo viên trong thế kỉ 21 của khu vực ASEAN gồm có: (1) Năng lực tham gia và phát triển nghề nghiệp chuyên môn.
(2) Năng lực phát triển, duy trì các nguồn lực, tài nguyên dạy và học. (3) Năng lực hỗ trợ người học học tập. (4) Năng lực hỗ trợ phát triển kĩ năng sống và kĩ năng nghề cho người học. (5) Năng lực thiết kế bài giảng phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của từng nhà trường.
(7) Năng lực phát triển các giá trị đạo đức, luân lí. (8) Năng lực thiết lập và duy trì môi trường học tập. (9) Năng lực đo lường và đánh giá khả năng thực hiện hành động của người học. (10) Năng lực kết nối với các đối tượng liên quan, các bên tham gia, đặc biệt với cha mẹ học sinh.
(11) Năng lực quản lí các điều kiện, chính sách hỗ trợ và phúc lợi của học sinh và các yêu cầu khác. OECD (2009) đã đưa ra cách hiểu về năng lực giáo viên là nói đến một quan điểm có hệ thống và rộng hơn về nghiệp giáo viên bao gồm kiến thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp ở nhiều cấp độ: cá nhân, nhà trường, địa phương, cộng đồng xã hội và mạng lưới nghề nghiệp. OECD cũng đã đề xuất 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mô hình về năng lực nghề nghiệp của giáo viên gồm 2 nhóm chính: Khả năng nhận thức và đặc điểm về động cơ – cảm xúc. Mục đích của việc xây dựng chuẩn, tiêu chí đánh giá là xác định cơ sở cho việc đánh giá năng lực của giáo viên.
Theo OECD (2009), cơ sở cần thiết cho việc đánh giá là sự tồn tại của các tiêu chí rõ ràng được vận dụng nhất quán bởi người đánh giá có năng lực. Quy trình đánh giá năng lực giáo viên cần thiết lập các tiêu chí đánh giá để xác định các cấp độ thành tích của từng giáo viên ở mỗi khía cạnh được đánh giá. Với quan niệm năng lực là sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ. Liên minh Châu Âu (EU) đã đưa ra khuyến nghị những năng lực mà GV cần được trang bị.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tiêu chuẩn năng lực GV Liên minh Châu Âu Năng lực Mô tả Kiến thức – Kiến thức về môn học. Hiểu biết Kiến thức nội dung sư phạm (kiến thức về nội dung và cấu trúc môn học). Kiến thức sư phạm (kiến thức về quá trình giảng dạy và học tập).
Kiến thức về chương trình giáo dục (kiến thức về chương trình môn học) được kế hoạch hóa và hướng dẫn các nội dung cụ thể của môn học. Các cơ sở khoa học giáo dục (kiến thức liên văn hóa, lịch sử, khoa học, xã hội). Các khía cạnh về bối cảnh, giảng dạy, tổ chức của các chính sách giáo dục. Các vấn đề về hòa nhập và đa dạng.
Sử dụng hiệu quả công nghệ trong học tập. Tâm lí học phát triển. Các quá trình và động lực nhóm, các lý thuyết học tập, các vấn đề động cơ. Các quy trình và phương pháp đánh giá và lượng giá.
Các kỹ năng Lên kế hoạch, quản lý, phối hợp giảng dạy. Sử dụng tài liệu và công nghệ giảng dạy. Quản lí sinh viên và các nhóm. Giám sát, điều chỉnh, đánh giá mục tiêu và các quá trình giảng dạy, học tập.
Thu thập, phân tích, giải thích các minh chứng và dữ liệu (kết quả học tập của nhà trường, kết quả đánh giá ngoài) cho quyết 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực Mô tả định chuyên môn và cải tiến việc giảng dạy, học tập. Sử dụng, phát triển, tạo ra tri thức nghiên cứu để thông tin về các thực tiễn. Phối hợp với các đồng nghiệp, phụ huynh và các dịch vụ xã hội. Kỹ năng đàm phán (tương tác mang tính xá hội và chính trị với nhiều bên liên quan, các nhân vật và bối cảnh giáo dục).
Các kỹ năng phản ánh, siêu nhận thức và giao tiếp cho việc học tập nag tính các nhân và trong các cộng đồng chuyên môn. Thích ứng với bối cảnh giáo dục đặc trưng bởi động lực đa tầng với các ảnh hưởng lẫn nhau (từ cấp độ vĩ mô của chính sách nhà nước để các cấp trung gian của nhà trường, và mức độ vĩ mô của lớp học và động lực của người học). Niềm tin, thái Nhận thức về nhận thức luận (các vấn đề liên quan đến tính độ, giá trị và năng và sự phát triển lịch sử của môn học và địa vị của nó, sự cam kết. cũng như đối với các lĩnh vực môn học liên quan khác).
Khuynh hướng đối với sự thay đổi, tính linh hoạt, học tập liên tục và nâng cao tính chuyên nghiệp, bao gồm học tập và nghiên cứu. Cam kết thúc đẩy việc học tập cho tất cả học sinh. Có xu hướng thúc đẩy thái độ và thực hành dân chủ của sinh viên với tư cách là công dân Châu Âu (bao gồm cả sự đánh giá cao tính đa dạng và đa văn hóa). Thái độ phản biện đối với việc giảng dạy của bản thân (thực tiễn kiểm tra, thảo luận và đặt câu hỏi).
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực Mô tả Khuynh hướng để làm việc nhóm, hợp tác và kết nối mạng. Cảm giác tự hiệu quả. Các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Quyên (2007) trong bài “Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học và việc thể chế hóa việc đánh giá năng lực nghề nghiệp GV theo Chuẩn”, Phan Sắc Long (2005) trong bài “chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học với việc đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá GV”, đã đưa ra được những vấn đề cơ bản như xác định khái niệm, xác định hệ thống chuẩn mực trong chỉ đạo thực hiện trên cơ sở mục tiêu giáo dục, mối quan hệ giữa chuẩn và điều kiện giáo dục, các tác giả đã nghiên cứu và bàn bạc xoay quanh các vấn đề về mục đích của chuẩn, nội dung của chuẩn, việc bồi dưỡng đội ngũ GV đang hành nghề để đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn của BGĐ & ĐT, đồng thời đề xuất một số kiến nghị và giải pháp. Năng lực của GV là những thuộc tính tâm lí giúp họ hoàn thành tốt hoạt động dạy học và giáo dục.
Năng lực của GV được chia thành ba nhóm: nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm (Đặng Thị Kim Nga, 2018, tr. Tóm lại, qua việc phân tích trên có thể thấy có nhiều hướng quan niệm về năng lực của giáo viên. Tuy nhiên, chúng đều nói về kiến thức chung, kiến thức chuyên môn, các kĩ năng cần thiết trong giảng dạy và khuynh hướng, giá trị, thái độ. Cách tiếp cận này phát triển nhấn mạnh vào kỹ năng thực hành, giá trị của giáo viên trong bối cảnh xã hội đổi mới.
Các nghiên cứu về năng lực dạy học của giáo viên 1. Năng lực dạy học. OCED (2009) đã phân biệt rõ ràng khái niệm năng lực giảng dạy (năng lực dạy học) và năng lực của GV. Ở đây, năng lực dạy học nhấn mạnh vào vai trò của GV trên lớp và gắn trực tiếp với công việc dạy học – bao gồm kiến 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức và kỹ năng nghề nghiệp và thái độ tích cực tạo ra hành động tích cực.
Hoạt động của người GV biểu hiện trong tất cả các hình thức khác nhau của công tác sư phạm, nhưng trước hết là ở giờ dạy trên lớp. Một giờ giảng của giáo viên có kinh nghiệm, có năng lực phải là một giờ giảng có hiệu quả cao, có tính giáo dục và tính phát triển.