mở đầu cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam. Trƣớc hành động trắng trợn của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến cầm quyền lúc đó có trách nhiệm phải lãnh đạo nhân dân cả nƣớc tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, song triều đình nhà Nguyễn không huy động đƣợc sức mạnh dân tộc chống xâm lƣợc. Mặc dù vậy, nhân dân cả nƣớc đã tích cực hƣởng ứng các phong trào của các văn thân sĩ phu yêu nƣớc, chống quân xâm lƣợc ngay từ những ngày đầu chúng xâm phạm bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. 17 z Sau khi thực dân Pháp đặt xong ách thống trị của nó thì chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến cũng hình thành.
Những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, nhƣ mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và bọn thực dân pháp xâm lƣợc, giữa giai cấp công nhân Việt Nam và bọn tƣ bản, giữa giai cấp nông dân Việt Nam và giai cấp địa chủ phong kiến, đã nảy sinh và phát triển ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, vấn đề lựa chọn con đƣờng xã hội chủ nghĩa, tức là lựa chọn phƣơng thức giải quyết các mâu thuẫn của xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến chƣa trực tiếp đƣợc đặt ra. Nhu cầu đi tìm con đƣờng cứu nƣớc mới chỉ xuất hiện trong các cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại kẻ thù ngoại xâm. Mặc dù tất cả những cuộc đấu tranh yêu nƣớc của nhân dân ta chống thực dân Pháp trong giai đoạn này hầu nhƣ đều bị đàn áp đẫm máu và bị thất bại, những tìm tòi của các nhà yêu nƣớc lớn về con đƣờng giải phóng dân tộc đều không thành công, nhƣng tất cả đã chứng tỏ chủ nghĩa yêu nƣớc truyền thống rực rỡ của dân tộc, một sức mạnh đƣợc hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử.
Đó là đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nƣớc truyền thống. Chủ nghĩa yêu nƣớc của dân tộc ta thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nó xuất phát từ lợi ích, nguyên vọng của toàn thể dân tộc, mƣu cầu và hy vọng đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc và luôn bùng cháy lên mạnh mẽ mỗi khi có nạn ngoại xâm. Chính những cuộc đấu tranh bền bỉ, lâu dài chống quân xâm lƣợc, đặc biệt là giai đoạn đô hộ của thực dân Pháp, bất chấp những hy sinh, thất bại và đau đớn để bảo vệ Tổ quốc, dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ rằng chỉ có giải phóng đất nƣớc khỏi ách ngoại xâm, giành lại nền độc lập, thì mọi con ngƣời Việt Nam mới có thể tự do phát triển và việc giải quyết mâu thuẫn của xã hội Việt Nam không thể chỉ giới hạn ở những điều kiện, tiền đề bên trong của nó mà cần phải kết hợp, tìm đƣợc những điều kiện tất yếu bên ngoài và điều quan trọng là phải tìm ra đƣợc những điều kiện cho 18 z phép có thể giải quyết thắng lợi nhiệm vụ lịch sử cấp bách, sống còn là giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân.
Sinh ra và lớn lên ở đất nƣớc bị đế quốc Pháp xâm chiếm, dân tộc bị chìm đắm trong vòng nô lệ, từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống yêu nƣớc của dân tộc Việt Nam. Ngƣời chứng kiến các phong trào yêu nƣớc chống Pháp bị đàn áp dã man, biết rút kinh nghiệm thất bại của các con đƣờng giành độc lập theo quan điểm mới. Ngƣời quyết định sang phƣơng Tây để tìm con đƣờng cứu nƣớc theo phƣơng thức mới. Trong gần mƣời năm bôn ba khắp các châu lục, Hồ Chí Minh đã thấy rõ sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và cuộc sống khổ cực của những ngƣời lao động thuộc mọi màu da.
Từ đó, ở Ngƣời dần dần hình thành ý thức và lập trƣờng của giai cấp công nhân. Trong cuộc hành trình này, Ngƣời đã đến ba nƣớc đế quốc lớn là Mỹ, Pháp, Anh do đó có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu kỹ cuộc cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789). Ngƣời rút ra nhận xét: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhƣng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo cách mệnh lần thứ hai” [60, 270] và “công nông Pháp hẵng còn phải mƣu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [60, 274]. Nhƣ vậy, Ngƣời cho rằng, việc giải phóng dân tộc không thể đi theo con đƣờng cách mạng tƣ sản, mà phải đi theo con đƣờng cách mạng khác.
Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mƣời (1917) và việc thành lập Quốc tế cộng sản (1919) có ảnh hƣởng quan trọng đến tƣ tƣởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã làm bừng sáng lên trong Ngƣời những nhận thức mới. Bởi vì, Luận cương đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Ngƣời đặc biệt quan tâm, đó là vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa đƣợc đặt ra trong 19 z quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải trong quỹ đạo của cách mạng tƣ sản. Ngƣời tiếp thu Luận cƣơng với niềm cảm động, phấn khởi và tin tƣởng biết bao và Ngƣời khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng đƣợc các dân tộc bị áp bức và những ngƣời lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ và chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng đƣợc dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới. Trên diễn đàn Đại hội Đảng xã hội Pháp (S.O) ở Tua năm 1920, Ngƣời cất cao tiếng nói yêu cầu Đảng xã hội phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong các thuộc địa.
Với trái tim nồng cháy vì độc lập, tự do và lý tƣởng xã hội chủ nghĩa, Ngƣời gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia quá trình thành lập Đảng cộng sản Pháp, trở thành ngƣời cộng sản Việt Nam đầu tiên. Kể từ đây, Ngƣời thực hiện một quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học vào Việt Nam, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quá trình hình thành những nội dung cụ thể về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng chính là quá trình chủ nghĩa Mác - Lênin thấm sâu và chuyển hoá một cách sống động trong tư duy Hồ Chí Minh, là quá trình hình thành tƣ duy biện chứng duy vật ở Hồ Chí Minh. Nhƣ vậy, con đƣờng cách mạng mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
“Thiên tài của Ngƣời chính là ở chỗ đã phát hiện ra con đƣờng đó. Nó tạo ra sức mạnh của Ngƣời, sức mạnh của dân tộc, của tất cả chúng ta” [29, 64]. Sự lựa chọn này cũng đã đƣợc khẳng định lại trong Luận cương chính trị năm 1930 do đồng chí Trần Phú khởi thảo. Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dƣơng (3 - 2- 1930), những cuộc đấu tranh anh dũng có tổ chức của nhân dân ta trong những năm 30 của thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nƣớc 20 z dân chủ nhân dân ra đời, chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, đó là những bƣớc đi, những thắng lợi quan trọng chứng tỏ sự lựa chọn đầu tiên, mang tính chất của sự lựa chọn khởi đầu về con đƣờng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta là đúng đắn.
Cũng từ đây, mô hình và phƣơng thức hiện thực hoá con đƣờng xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội đƣợc Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ động vận dụng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể với những nhiệm vụ và phƣơng pháp phù hợp. QUAN NIỆM VỀ CON ĐƢỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NHỮNG NĂM 20 ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 50 CỦA THẾ KỶ XX. Phác thảo đầu tiên về mô hình chủ nghĩa xã hội Nhƣ chúng ta biết, Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ ra đặc trƣng cụ thể cho một xã hội xã hội chủ nghĩa tƣơng lai, chƣa vạch ra một cách rõ nét, tỉ mỉ những con đƣờng cụ thể để các quốc gia, dân tộc tiến tới chủ nghĩa xã hội, lại càng chƣa có điều kiện chỉ ra điều đó cho một nƣớc lạc hậu ở phƣơng Đông nhƣ Việt Nam, chƣa trải qua chủ nghĩa tƣ bản. Ngay đến thời đại của mình, khi Cách mạng Tháng Mƣời Nga thành công, chính Lênin cũng mới vạch ra và thực nghiệm mô hình chủ nghĩa xã hội ở một số khía cạnh nào đó, còn những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh vẫn chƣa đƣợc triển khai một cách đầy đủ.
Nhƣ vậy, vấn đề xác lập mô hình của chủ nghĩa xã hội là một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, không chỉ một lần V.Lênin cho rằng: “Chúng ta không thể nhận định về chủ nghĩa xã hội đƣợc; chủ nghĩa xã hội sẽ nhƣ thế nào khi nó đạt tới những hình thức hoàn chỉnh của nó, điều đó chúng ta không biết, không thể nói lên đƣợc” [45, 82 - 83]. Ông còn chỉ rõ: “Chúng ta không kỳ vọng rằng Mác hay những ngƣời theo chủ nghĩa Mác đều hiểu biết mọi mặt cụ thể của con đƣờng tiến 21 z lên chủ nghĩa xã hội. Nhƣ thế sẽ là phi lý.
Chúng ta chỉ biết phƣơng hƣớng của con đƣờng đó và những lực lƣợng giai cấp nào dẫn đến con đƣờng đó; còn nhƣ về cụ thể và trên thực tế con đƣờng đó ra sao thì kinh nghiệm của hàng triệu con ngƣời sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động” [44, 152 - 153]. Bởi vậy, việc tìm kiếm, xác lập những đặc trƣng của xã hội chủ nghĩa và sự khai phá, kiến tạo con đƣờng đi tới xã hội đó vốn đã rất khó khăn, đối với Việt Nam lại càng khó khăn. Từ rất sớm, khi vận động mọi ngƣời đọc báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi ngƣời không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi ngƣời, và vì mọi ngƣời, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tƣ bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tƣờng dài ngăn cản những ngƣời lao động trên thế giới hiểu nhau và thƣơng yêu nhau” [57, 461].