CHƯƠNG 1:KHỞI NGUỒN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỜ TƯỚNG TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI KỲ Cờ Tướng, trò chơi cờ truyền thống của người Trung Quốc, có lịch sử tương đối khá lâu đời. Sở dĩ, trong suốt mấy nghìn năm qua, Cờ Tướng có thể hấp dẫn được bao tầng lớp nhân dân Trung Quốc và nhân dân các nước trong khu vực, là bởi vì Cờ Tướng chứa đựng trong nó nhiều nhân tố: Thể dục, Nghệ thuật và Khoa học. Sức hấp dẫn của Cờ Tướng như một khúc nhạc động lòng người, như một bức tranh tuyệt đẹp, hay như một bài thơ đầy tính hình tượng. Ngoài ra, tính chiến đấu và tính cạnh tranh trong Cờ Tướng khi lâm cục giao tranh là điều mà các môn nghệ thuật khác không thể bì kịp.
Cờ Tướng ngày càng nhận được sự yêu thích của nhiều người. Người ta cứ chơi cờ, cứ say mê với các chiến thuật đi quân trong Cờ Tướng, mà có mấy ai biết rằng: “Cờ Tướng có từ lúc nào?”, “ Ai phát minh ra Cờ Tướng?”. Và khi những câu hỏi tựa như thế được đặt ra, thì những kỳ thủ, thậm chí cả những cao thủ chơi cờ đã đánh cờ mấy chục năm qua, chơi hàng nghìn ván cờ, tóc đã điểm sương, những tưởng ôm cả một kho tàng lịch sử cờ trong đầu, ai ngờ khi được hỏi cũng rất lúng túng. KHỞI NGUỒN CỦA CỜ TƯỚNG Cờ Tướng có nguồn gốc như thế nào? Một số nhà nghiên cứu lịch sử cờ của Anh và Nga cho rằng: Cờ Tướng do người Ấn Độ phát minh, vào khoảng thế kỷ VI thì được đưa vào Trung Quốc.
Theo họ, cờ Saturanga của Ấn Độ đã tồn tại hơn 1000 năm (khoảng thời kỳ Bắc Tống của Trung Quốc) và Ấn Độ là đất nước có rất nhiều voi. Nhưng giả thiết này đã không thuyết phục được người Trung Quốc. Bởi vì, căn cứ vào những ghi chép trong các tài liệu lịch sử của người Trung Quốc, thì 4 từ “Tượng Hí” (象戲) đã có từ năm Thiên Hòa IV thời Chu Vũ Đế. Mặt khác, từ xa xưa Trung Quốc đã có voi và người Trung Quốc đã từng có đội quân voi “Tượng Chiến” (象戰) trong các cuộc chiến tranh của mình.
Các truyền thuyết cổ xưa về nguồn gốc của Cờ Tướng Với giả thiết Cờ Tướng ra đời ở Trung Quốc, người Trung Quốc cũng có nhiều truyền thuyết khác nhau về nguồn gốc của Cờ Tướng. Truyền thuyết thứ nhất: Cờ Tướng do vua Thuấn tạo ra, vào khoảng năm 2315 TCN. Truyền thuyết kể rằng, vua Thuấn có một em trai rất nghịch ngợm. Nhằm mục đích giáo hóa em trai của mình, vua Thuấn đã tạo ra một trò chơi cờ.
Vì em trai của vua Thuấn tên “Tượng”(象), cho nên gọi là “Tượng Kỳ”(象棋). Truyền thuyết thứ hai: Cờ Tướng ra đời vào thời kỳ Chu Vũ Vương phạt Trụ, vào khoảng thời gian từ năm 1134 đến năm 1120 TCN. Truyền thuyết thứ ba: Cờ Tướng ra đời vào thời “Hán Sở tranh hùng” (khoảng năm 206 TCN), do Hàn Tín phát minh. Theo truyền thuyết, trong cuộc chiến trường kỳ giữa Hạng Vũ và Lưu Bang, Cờ Tướng không chỉ là món ăn tinh thần của các binh sĩ, mà còn dạy cho các binh sĩ những tri thức về quân sự.
Bởi vì, những chiến thuật đi quân trong Cờ Tướng có khá nhiều điểm tương đồng với các nguyên tắc tác chiến trong chiến tranh thực sự. Tuy đây chỉ là những câu chuyện truyền thuyết, nhưng nếu nhìn từ góc độ Văn hóa sử, chúng ta có thể thấy rằng, truyền thuyết cũng phần nào chịu ảnh hưởng của bối cảnh xã hội đương thời. Manh mối về Cờ Tướng từ các bàn cờ, quân cờ mà các nhà khảo cổ khai quật được Các nhà khảo cổ đã khai quật được ở hồ Uyên Ương (Vĩnh Xương, Cam Túc) một số gốm sứ màu thời xã hội nguyên thủy, có niên đại khoảng 4000 – 5000 năm TCN. Trên hoa văn của các gốm sứ đó có hình ảnh các bàn Cờ Tướng, rất giống với bàn Cờ Tướng hiện nay, đều là 64 ô.
Năm 1982, người ta đã phát hiện ra quân Xa(車) trong nhà của một nông dân ở thôn Thạch Gia Hà, tỉnh Tứ Xuyên. Quân cờ này làm bằng ngà voi, được viết bằng chữ Khải, điều đặc biệt là nó hoàn toàn giống với quân Xa trong Cờ Tướng ngày nay. Theo nghiên cứu, quân cờ này đã có vào thời Đường, cách nay hơn 1100 năm. Ngoài ra, hình ảnh bàn cờ trong bức tranh thêu bằng vải “Cầm – Kỳ – Thi – Họa” thời Đường là một bàn cờ có 64 ô đen trắng xen kẽ nhau, hoàn toàn giống với Cờ Vua ngày nay.
Điều này cho thấy, Cờ Tướng Trung Quốc thời kỳ này vẫn chưa được định hình và rất có thể Cờ Tướng không chỉ tồn tại dưới một hình thức. Cờ Tướng thời Bắc Tống mà các nhà khảo cổ khai quật được gần giống với Cờ Tướng ngày nay. Đó là một bàn Cờ Tướng khá hoàn chỉnh, ra đời cách nay khoảng 1120 năm. Đây là những bàn cờ, quân cờ cổ xưa nhất thế giới mà các nhà khảo cổ học phát hiện được trong thời gian qua.
Sự ghi chép về Cờ Tướng trong các thư tịch cổ Trong các thư tịch cổ Trung Quốc, từ “Tượng Kỳ” (象棋) đã sớm xuất hiện trong “Sở Từ – Chiêu Hồn” (楚辭·招魂): “Côn tế Tượng Kỳ, hữu lục bác ta” (昆蔽象棋,有六博些) Hay như trong “Thuyết Uyển” (說苑) của Lưu Hướng (劉向) cũng có ghi 6 lại câu nói của Mạnh Thường Quân: “Yên tắc đấu Tượng Kỳ nhi vũ trịnh nữ” (燕則鬥象棋而舞鄭女) Từ những truyền thuyết, thư tịch cổ, những bàn cờ và những quân cờ khai quật được đã chứng minh một điều: Cờ Tướng có nguồn gốc từ Trung Quốc, là sản phẩm của người dân Trung Quốc, chứ không phải là sản phẩm ngoại lai. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỜ TƯỚNG QUA CÁC TRIỀU ĐẠI Bất kỳ sự vật nào đều có sự phát triển từng bước từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Sự phát triển của Cờ Tướng cũng không ngoại lệ. Nó manh nha, trải qua nhiều cuộc cải cách, mới phát triển đến hình thức hiện nay của Cờ Tướng.
Cờ Tướng thời Xuân Thu – Chiến Quốc Xuân Thu – Chiến Quốc là giai đoạn suy vong của xã hội nô lệ, bắt đầu thời kỳ phong kiến ở Trung Quốc. Giai đoạn này được xem là cuộc cách mạng lớn trong lịch sử Trung Quốc. Đây cũng là thời kỳ có nhiều thay đổi lớn trên lĩnh vực văn hóa trong lịch sử cổ đại Trung Quốc. Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, toán học, thiên văn học, quân sự học, nghệ thuật và thể dục cũng có nhiều thay đổi lớn.
Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ thịnh hành cờ “Lục Bác” (六博), có thể nói đây là dạng ban đầu của Cờ Tướng cổ đại Trung Quốc. Rất có thể cờ Lục Bác được ra đời vào trước thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Bởi vì, trong tiểu thuyết cổ Trung Quốc “Mục Thiên Tử Truyện”(穆天子傳)có viết rằng: năm 970 TCN có Chu Mục Vương Mãn là một người rất ham mê cờ Lục Bác, ông chơi cờ với Tĩnh Công tới ba ngày mới phân thắng bại. Trong tác phẩm “Sở Từ – Chiêu Hồn” (楚辭·招魂) có miêu tả về cách chơi, hình dáng và cấu tạo của cờ Lục Bác như sau: 7 “Côn tế Tượng Kỳ, hữu Lục Bác ta Phân tào tịnh tiến, tù tương bách ta Thành kiêu nhi mâu, hô ngũ bạch ta” (昆蔽象棋,有六博些 分曹並進,遒相迫些 成梟而牟,呼五白些) Câu thứ nhất cho thấy, cờ Lục Bác được cấu thành từ 3 bộ phận: Kỳ (棋), Trợ (箸) và Cục (局).
Trợ (箸) là một thanh cây dài 6 phân, giống như cây đũa, có tác dụng như con xúc xắc. Trước khi chơi cờ, người chơi phải “đầu trợ” (投箸: giống như đổ xúc xắc). Cục (局) là bàn cờ hình vuông, trên bàn cờ có những đường gấp khúc. Câu thứ hai nói về cách chơi cờ.
Do hai người hoặc hai nhóm người đối cục với nhau. Lúc chơi cờ thì “đầu lục trợ, hành lục kỳ” (投六箸,行六棋). Trước hết là “đầu trợ”, sau đó mới “hành kỳ”, đấu với nhau cả về kỹ xảo và trí tuệ. Khi hành kỳ thì phải chú ý đến kỹ xảo, lấn ép lẫn nhau, khiến cho đối phương hết đường đi quân.
Câu thứ ba nói về thời khắc cuối cùng quan trọng nhất của việc đi quân. Khi đầu trợ ra “Ngũ bạch” (五白) thì có thể ăn quân cờ quan trọng nhất của đối phương để giành lấy thắng lợi. 8 Cờ Lục Bác không giống với Cờ Tướng cổ đại và Cờ Tướng hiện đại. Nó không có các quân cờ với danh xưng: xa, mã, tượng, tướng, tốt và sĩ.
Nhưng quân cờ của Lục Bác có 6 loại binh chủng, cũng có quân Kiêu có chức năng như quân Tướng, quân Soái trong Cờ Tướng, chỉ cần tiêu diệt được quân cờ này là chiến thắng. Đặc điểm này đã được Cờ Tướng cổ đại kế thừa. Qua đó cho thấy, Cờ Tướng thời kỳ đầu là một trò chơi tượng trưng cho các cuộc chiến đương thời. Người ta đã tìm thấy bộ cờ Lục Bác thời Chiến Quốc trong một ngôi mộ cổ ở tỉnh Hồ Bắc.
Bàn cờ làm bằng gỗ, dài 38,5 cm, rộng 35 cm. Trên mặt bàn cờ có khắc các đường đi của quân cờ và có vẽ bốn đường tròn màu đỏ. Quân cờ làm bằng xương thú, có 6 quân. Trong đó có quân Kiêu màu đỏ dài 3cm, rộng 1,4 cm, cao 1,8 cm là lớn hơn cả.
Còn các quân còn lại đều màu đen và có chung kích thước dài 2,5 cm, rộng 1,2 cm, cao 1,7 cm. Trợ có 6 thanh, mỗi thanh là một nửa ống tre nhỏ chẽ đôi theo chiều dọc. Cờ Tướng thời Tần – Hán Thời kỳ Tần – Hán, cùng với sự thống nhất về chính quyền, mối quan hệ giữa các dân tộc, giữa các khu vực ngày càng được tăng cường. Văn hóa thời kỳ này cũng phát triển rực rỡ.
Như sự xuất hiện của tác phẩm “Cửu chương toán thuật” nổi tiếng, phát minh ra giấy, và những sáng tạo trong lĩnh vực y học, dược học đều là những cống hiến kiệt xuất cho nhân loại trong thời kỳ này. Thời Tần và Tây Hán, cờ Lục Bác về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Nhưng đến thời Đông Hán, có một sự đổi mới mạnh mẽ về cờ Lục Bác. Người ta gọi loại cờ trước đó là “Đại Bác” (大博) để phân biệt với cờ “Tiểu Bác” (小 博) sau khi đổi mới.
Theo ghi chép trong quyển “Liệt Tử” (列子), cờ Tiểu Bác có hai người chơi, gồm 12 quân cờ (trong đó có 6 quân màu đen và 6 quân màu trắng). Trên cơ sở cấu tạo của Lục Bác, về sau xuất hiện một loại trò chơi cờ 9 mới gọi là “Tái Hí” (塞戲). Cờ Tái Hí cũng giống như Lục Bác, nhưng chỉ chơi cờ mà không đầu trợ.