mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500- 2000 loài.
Năm 1965, Pócs Tamás thống kê miền Bắc được 5190 loài Xây dựng cơ sở dữ liệu: Hiện nay trên thế giới có rất nhiều Trung tâm Đa dạng sinh học, ở đây không chỉ lưu trữ và bảo quản tiêu bản lớn mà còn là trung tâm đào tạo, nghiên cứu và hợp tác quốc tế về Đa dạng sinh học. Trung tâm cũng có các phương pháp quản lý, lưu trữ thông tin tiên tiến. Tiêu bản được bố trí khoa học theo hệ thống phân loại tại các phòng lưu trữ. Phương pháp bảo quản tiêu bản của trung tâm cũng có nhiều điểm mới bằng cách không sử dụng download by : skknchat@gmail.com 6 foocmon để xử lý mẫu, tạo môi trường không độc hại cho người làm công tác bảo quản tiêu bản như: Trung tâm Đa dạng sinh học Hà Lan.
Hệ thống thông tin đa dạng sinh học của Trung Quốc (CBIS) gồm có nguồn thông tin của năm lĩnh vực: thực vật, thú, thuỷ sinh, vi sinh vật, sinh vật biển. Bên cạnh đó CBIS còn có cơ sở dữ liệu về tiêu bản, vườn thực vật, khu dự trữ sinh quyển, ngân hàng giống, ngân hàng gen. Website của CBIS cho phép tra cứu thông tin miễn phí về các loài sinh vật, tìm kiếm bằng cách gõ từ khoá về: tên khoa học, tên thường gọi, tên tiếng anh. Bảo tàng thiên nhiên quốc gia Inđônêsia, hay còn gọi là bảo tàng Cibinong là bảo tàng thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á với 7,5 triệu tiêu bản, trong đó 2 triệu tiêu bản Thực vật, 2,7 triệu tiêu bản Động vật và 2,8 triệu tiêu bản Côn trùng.
Bảo tàng sinh vật học của Malaysia đã lưu trữ được trên 300000 tiêu bản thực vật, mô tả và giám định được trên 15000 loài phân bố khắp Malaysia. Hiện nay, hầu hết bảo tàng, trung tâm đa dạng sinh học có phần mền quản lý cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học. Quá trình làm, bảo quản, lưu trữ và quản lý mẫu đều tuân theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt nên phần lớn mẫu tiêu bản đều đạt chuẩn cao. Tuy nhiên, việc chia sẻ thông tin đa dạng sinh học giữa các quốc gia còn nhiều hạn chế do cơ sở dữ liệu chưa được upload thường xuyên trên đó.
Do vậy, việc xây dựng cơ sở dự liệu và chia sẻ thông tin đa dạng sinh học vẫn đang được nhiều nước quan tâm. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam. Ở Việt Nam, từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật, trong số các công trình nghiên cứu có giá trị chúng ta phải kể đến như: download by : skknchat@gmail.com 7 Công trình “Thực vật chí Đông Dương”, gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã được công bố từ năm 1907 tới 1952 bởi nhà thực vật người Pháp H. Lecomte chủ biên.
Trong công trình này tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho 7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dương trong đó có Việt Nam. Trên cơ sở thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nước ta có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ. Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%). Năm 1965, Pooc Tamas đã thống kê ở miền Bắc Việt Nam có 5190 loài, năm 1969 Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5609 loài, 1660 chi.
Cùng với thống kê đó, ở miền Bắc từ năm 1969 đến 1976 Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã xuất bản 6 tập sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế chủ biên. Cùng giai đoạn này ở miền Nam tác giả Phạm Hoàng Hộ cũng cho xuất bản công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” gồm 2 tập, trong công trình ông đã công bố 5326 loài thực vật có ở miền Nam nước ta. Trong đó thực vật bậc thấp có 60 loài, rêu 20 loài, còn lại là các ngành thực vật có mạch 5246 loài. Vào năm 1991 – 1993, trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” gồm 3 tập, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê mô tả 10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam.
Trong 2 năm 1999 – 2000, tác giả đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản bộ sách đã thống kê mô tả 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành. Ngoài các nghiên cứu trên phạm vi cả nước hay tại 2 khu vực Bắc, Nam Việt Nam, còn có các công trình nghiên cứu khu hệ thực vật ở các vùng miền khác được công bố như: Hệ thực vật Tây Nguyên đã công bố 3754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại và Phan Kế Lộc làm download by : skknchat@gmail.com 8 chủ biên (1984). Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985), Nghiên cứu hệ thực vật vùng núi cao Sa Pa - Phan xi phăng của Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu tại khu vực vùng núi cao của dãy Hoàng Liên có 2024 loài thực vật bậc cao 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành thực vật. Theo hướng nghiên cứu vế tính đa dạng thực vật tại vườn Quốc gia của Việt Nam đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó phải kể tới những nghiên cứu khá đầy đủ về đa dạng thực vật tại VQG Cúc Phương.
Công việc lập danh lục thực vật của VQG Cúc Phương được bắt đầu từ năm 1971 và kể từ đó tới năm 1997 đã có 4 danh lục được công bố. Trước hết phải kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã nghiên cứu khá hoàn chỉnh và hệ thống về tính đa dạng sinh học VQG Cúc Phương. Các chuyên đề báo cáo về đa dạng dạng sống hệ thực vật, đa dạng về nguồn gen cây có ích, đa dạng về các quần xã thực vật cho ta thấy tác giả đã dầy công nghiên cứu về vấn đề này. Cùng với cuốn “cẩm nang nghiên cứu về đa dạng sinh vật” sản xuất năm 1997, tác giả đã xây dựng nên một số mẫu chuẩn có thể vận dụng vào việc nghiên cứu đa dạng thực vật cho các vùng khác nhau của Việt Nam.
Nguyễn Bá Thụ trong luận án phó Tiến sỹ khoa học Nông nghiệp với đề tài “ Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở VQG Cúc Phương” tác giả đã thống kê được 1944 loài thực vật bậc cao thuộc 911 chi, 219 họ, công trình nghiên cứu đã bổ sung thêm 270 loài thực vật cho hệ thực vật Cúc Phương so với danh lục thực vật năm 1971. Đồng thời phân tích khá đầy đủ sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý…. Gần đây, năm 2004 công trình “Danh lục thực vật có hạt ở vườn Quốc gia Cúc Phương - Seed Plants of Cuc Phuong National Park- A Documented Checlist” do tập thể các nhà thực vật Hoa Kỳ, Viện Sinh thái và Tài nguyên download by : skknchat@gmail.com 9 sinh vật và vườn Quốc gia Cúc Phương của dự án nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Việt Nam và Lào thuộc nhóm hợp tác Quốc tế nghiên cứu đa dạng sinh học ( International Cooperative Biodiversity Groups - ICBG) đã công bố 1926 loài thực vật. Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta, là cơ sở để đề ra các chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và thực vật nói riêng.
Đây cũng là những tài liệu quan trọng và là cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu và phân tích tính đa dạng thực vật thân gỗ của khu vực nơi tôi nghiên cứu. Nghiên cứu thực vật ở Núi luốt. Năm 1997 và 1998, Lê Mộng Chân trong đề tài “ Phúc tra quy hoạch và thiết kế sơ bộ Vườn sưu tập và bảo tồn nguồn gen cây rừng thuộc trung tâm nghiên cứu thực nghiệm trường Đại học Lâm nghiệp” đã thống kê được 250 loài cây bản địa thuộc 68 họ thực vật bậc cao có mạch Năm 2003, Trần Ngọc Hải và Nguyễn Văn Huy trong đề đài “ Đánh giá tính đa dạng sinh học khu hệ động thực vật ở núi Luốt” đã thống kê được 342 loài cây bản địa thuộc 257 chi, 90 họ và 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Năm 2005, Trần Văn Quỳnh trong chuyên đề “ Điều tra thành phần, tình hình sinh trưởng và đặc điểm trồng các loài cây bản địa thuộc lô C khoảnh 3” đã bước đầu thống kê được 69 loài cây bản địa.
Năm 2005, Lê Sĩ Việt và cộng sự thực hiện đề tài về “Xây dựng cơ sở dữ liệu các khu rừng thực nghiệm của trường Đại học Lâm nghiệp”. Đề tài đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, dữ liệu về các trạng thái rừng, điều kiện thổ nhưỡng, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu. Năm 2006, Phùng Văn Phê trong chuyên đề cấp khoa “Đánh giá hiện trạng các loài cây bản địa được trồng tại lô A khoảnh 3” đã bước đầu thống kê được 283 loài. download by : skknchat@gmail.com 10 Từ năm 2006 đến năm 2009, Vũ Thị Thuần đã đánh giá hiện trạng và tình hình sinh trưởng một số loài ở tầng cây cao như: Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông; một số loài cây bản địa: Dẻ, Đinh thối, Re hương, Lát hoa, Lim xẹt, Gội, Trám đen,…và một số loài cây bụi thảm tươi.
Năm 2009, Nguyễn Văn Thanh đã xác định được tại khu vực núi Luốt và núi Voi gồm 415 loài thuộc 282 chi và 98 họ. Trong đó, tại núi Luốt là 397 loài thuộc 272 chi và 95 họ còn tại núi Voi là 198 loài thuộc 157 chi và 61 họ. Đồng thời đã thống kê được 346 loài thực vật có giá trị sử dụng chiếm tỷ lệ 83,37% tổng số loài đã điều tra được. Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc lập danh lục mà chưa có bất kỳ hình ảnh, tiêu bản hay bộ cở sở dữ liệu nào nên tính khoa học cũng như tính thuyết phục không cao, đặc biệt là sự chia sẻ, trao đổi và nghiên cứu hợp tác.