Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cơ chế bảo vệ Hiên pháp bằng pháp luật Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 1. Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp 1.
Hiến pháp Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nguồn của các văn bản quy phạm pháp luật, cần phải đƣợc tôn trọng và bảo vệ nghiêm chỉnh. Nội dung Hiến pháp quy định những vấn đề quan trọng cơ bản nhƣ tổ chức quyền lực nhà nƣớc, chế độ chính trị, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa, giáo dục…Nội dung những quy định của Hiến pháp xác định nền tảng pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nƣớc, bảo đảm quyền tự do, dân chủ và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời đây cũng là những cơ sở pháp lý cho việc đánh giá, xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nƣớc ban hành. Hiến pháp có vai trò quan trọng nhƣ vậy, nên việc bảo vệ Hiến pháp khỏi những hành vi vi hiến là điều tất yếu phải làm.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong quá trình thực thi Hiến pháp luôn luôn xảy ra tình trạng vi phạm Hiến pháp. Tình trạng này không thể xảy ra trong nhà nƣớc pháp quyền, bởi một trong những đòi hỏi cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền là tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp. Muốn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền thì bảo vệ Hiến pháp là một nhu cầu hàng đầu cần phải đƣợc quan tâm. Vi phạm Hiến pháp Là một dạng đặc biệt của vi phạm pháp luật, vi phạm Hiến pháp cũng đƣợc xem xét với đầy đủ các yếu tố cấu thành bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể.
Một hành vi đƣợc xem là vi phạm Hiến pháp nếu hội tụ đủ các dấu hiệu nhƣ: năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể, tính trái Hiến pháp của hành vi, 10 yếu tố lỗi. Vi phạm Hiến pháp đƣợc thể hiện dƣới hai dạng: hành động và không hành động. Trên cơ sở đó, vi phạm Hiến pháp có thể tạm chia thành hai loại: vi phạm Hiến pháp một cách chủ động và vi phạm Hiến pháp một cách bị động. Vi phạm một cách chủ động.
Đây là hình thức vi phạm khi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm, quyền hạn của mình đã đặt ra những quy định trái với những quy định của Hiến pháp hoặc là trái với tinh thần của Hiến pháp. Dạng vi phạm này trong thời gian qua xảy ra khá phổ biến và chủ yếu tập trung ở các các văn bản dƣới luật. Nguyên nhân phát sinh ra những vi phạm này chủ yếu xuất phát từ hai lý do:thứ nhất, do các cơ quan (vi phạm) này hầu hết là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý, nên khi đƣa ra các quy định để thực hiện việc quản lý thì luôn đƣa ra những quy định tạo nhiều thuận lợi cho công việc của mình và vô hình trung, đẩy những bất lợi về phía ngƣời dân (đối tƣợng chịu sự quản lý) và vì thế mà đồng thời vi phạm các quyền của ngƣời dân đƣợc Hiến pháp quy định. Thứ hai là, xuất phát từ lý do thứ nhất, các cơ quan này không cho rằng những quy định của mình ban hành ra là vi phạm Hiến pháp và lập luận rằng, nó rất cần thiết cho việc thực hiện các chức năng, quyền hạn của mình.
Có thể dẫn chứng hàng loạt các việc thuộc dạng vi phạm này trong thời gian qua. Ví dụ nhƣ việc quản lý dân sự bằng hộ khẩu của các cơ quan nhà nƣớc đã vi phạm các quyền hiến định của công dân, đặc biệt là quyền tự do cƣ trú. Mặc dù đến thời điểm hiện nay các vấn đề vƣớng mắc về quyền công dân liên quan đến hộ khẩu đã đƣợc cơ bản giải quyết bằng Luật Cƣ trú, nhƣng vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là có những quy định của các cơ quan nhà nƣớc đã trực tiếp hoặc là gián tiếp vi phạm các quyền hiến định của công dân. Đã có việc các cơ quan nhà nƣớc cứ làm mà không nghĩ đến Hiến pháp (nhƣ việc cấm đăng ký xe máy trƣớc đây), việc nhiều bộ ngành làm sai luật, việc ban hành giấy phép, điều kiện kinh doanh, hạn chế quyền kinh doanh của ngƣời dân… mà không bị một cơ quan nào phán xét cả.
Vi phạm một cách thụ động. Dạng vi phạm này thực chất là rất khó nhận thấy. ở dạng vi phạm này thì các cơ quan nhà nƣớc có nghĩa vụ đã không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của 11 Hiến pháp hoặc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định là phải ban hành. Ví dụ, tại điều 70 Hiến pháp 1992 hay điều 25 Hiến pháp 2013 thì công dân có quyền tự do biểu tình theo quy định của pháp luật.
Phân tích điều luật này chúng ta sẽ thấy là công dân có quyền tự do biểu tình và muốn biểu tình thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và muốn ngƣời dân tuân thủ các quy định của pháp luật thì phải có pháp luật để ngƣời dân tuân theo. Nhƣng thực tế, đến thời điểm hiện nay chúng ta chƣa có bất kỳ văn bản nào quy định chi tiết về việc tự do biểu tình của ngƣời dân. Do đó, quyền biểu tình của ngƣời dân không thể thực hiện đƣợc trên thực tế. Nhƣ vậy, chúng ta thấy là khi các cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm đã không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cũng đồng nghĩa với việc vi phạm Hiến pháp.
Hoặc, theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 hoặc điều 7 Hiến pháp 2013 thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nhƣng nếu chỉ căn cứ vào quy định trên thì cử tri không thể thực hiện đƣợc quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử của mình, mà nhất thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách cụ thể và chi tiết hơn. Và đến thời điểm hiện nay, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền vẫn chƣa ban hành bất kỳ văn bản nào quy định về vấn đề này. Ngoài ra, hình thức vi phạm này cũng có thể bắt gặp khi đối chiếu một quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 với thực tế.
Đó là quy định tại khoản 2 Điều 7: “Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực” cho đến khoản 2 điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 cũng quy định “Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết” Nhƣng trong thời gian qua, thực trạng luật chờ nghị định vẫn diễn ra một cách phổ biến trong công tác lập pháp của các cơ quan nhà nƣớc ở nƣớc ta. 12 Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, bất luận là hành động hay không hành động, thì vi phạm Hiến pháp cũng để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng, khó mà khắc phục đƣợc. Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới 1. Bảo hiến Hiện nay, xung quanh khái niệm bảo hiến có nhiều quan điểm khác nhau.
Có ngƣời cho rằng bảo hiến (bảo vệ Hiến pháp) là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp. Bảo hiến ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, trong trƣờng hợp này bảo hiến đã đƣợc đồng nhất với bảo đảm Hiến pháp. Quan điểm khác lại cho rằng, bảo hiến là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản pháp luật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến. Rõ ràng quan điểm thứ hai này có xu hƣớng thu hẹp nội hàm của khái niệm bảo hiến.
Trong khi đó, hoạt động bảo hiến không chỉ có mỗi việc xem xét và đánh giá tính hợp hiến hay vi hiến của các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, cần phải hiểu bảo hiến theo nghĩa rộng nhất. Bởi lẽ, toàn bộ hoạt động của hệ thống nhà nƣớc, của xã hội và các hành vi pháp lý tích cực của công dân, đặc biệt là hệ thống thanh tra, giám sát và xét xử, suy cho cùng đều có khả năng và mục tiêu bảo vệ Hiến pháp. Lịch sử bảo hiến thế giới ghi nhận sự ảnh hƣởng của chủ nghĩa hợp hiến phƣơng Tây, đặc biệt là chủ nghĩa hợp hiến phƣơng Tây tự do, đối với sự hình thành nền tài phán Hiến pháp tại Châu Âu, Mỹ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
Bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn pháp lý đối với quyền lực nhà nƣớc, nên thông qua đó, ngƣời ta có thể tìm đƣợc những biện pháp nhằm thực hiện sự giới hạn đối với quyền lực nhà nƣớc. Lịch sử tài phán Hiến pháp thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn, trong đó, giai đoạn I bắt đầu từ trƣớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai đoạn II tiếp nối từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến trƣớc chiến tranh thế giới II, giai đoạn thứ ba kéo dài từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, giai 13 đoạn thứ tƣ- giai đoạn phát triển của nền tài phán Hiến pháp hiện đại trên toàn thế giới. Có thể nói, mỗi giai đoạn đều có những đặc thù riêng về điều kiện chính trị, pháp lý và đều ghi dấu ấn khác nhau đối với sự phát triển của nền tài phán Hiến pháp thế giới.