CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN. Khái niệm, đặc điểm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.1 Khái niệm Theo khoản 1 Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công”. Luật doanh nghiệp năm 1999 chỉ quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức như vậy Luật doanh nghiệp 2014 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân, nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu.
Còn đối với người nước ngoài tại Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài thì họ được quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và họ sẽ họ sẽ hoạt động theo luật khuyến khích đầu tư trong nước và luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.2 Đặc điểm Công ty trách nhiệm một thành viên có những đặc điểm pháp lý sau đây: Về thành viên: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Trừ trường hợp tổ chức hoặc cá nhân không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam được quy định theo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản 2 Điều 18 của Luật doanh nghiệp 2014 về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lí doanh nghiệp. Đây là một đặc điểm nổi bật của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Điểm nổi bật nhất được thể hiện ở loại hình doanh nghiệp này chính là “Cá nhân có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được thừa nhận trong Luật doanh nghiệp 2014 mà trước đó Luật doanh nghiệp 1999 vẫn còn bỏ ngỏ.
Luật doanh nghiệp 2014 mở rộng đối tượng trở thành chủ sở hữu công ty bao gồm: Tổ chức, cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tự do kinh doanh, tự chọn mô hình doanh nghiệp đầu tư kinh doanh. Về chế độ chịu trách nhiệm: Chế độ chịu trách nhiệm tài sản hữu hạn là chế độ mà các chủ thể kinh doanh trong đó chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình. Đồng thời, chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Có thể so sánh với chế độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp tư nhân.
Trước hết nguồn vốn ban đầu của doanh nghiệp tư nhân xuất phát chủ yếu từ tài sản của một cá nhân, phần vố này sẽ do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán của doanh nghiệp. Như vậy, cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ đưa vào kinh doanh một số vốn nhất định trong khối tài sản cá nhân của mình và về nguyên tắc, tài sản đưa vào kinh doanh đó là tài sản của doanh nghiệp tư nhân. Chính từ điều này có thể kết luận rằng hầu như không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào doanh nghiệp tư nhân và phần tài sản còn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa trong việc nhìn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận khối tài sản của doanh nghiệp tư nhân, khẳng định vấn đề không thể tách bạch tài sản của của chủ doanh nghiệp tư nhân và tài sản của chính doanh nghiệp tư nhân đó.
Vì vậy, đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, do tính chất độc lập về tài sản của doanh nghiệp tư nhân không có nên chủ doanh nghiệp tư nhân- người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn. Chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đầu tư đã đăng kí với cơ quan đăng ký kinh doanh mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong trường hợp phần vốn đầu tư không đủ để trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp tư nhân. Về vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty. Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Vốn điều lệ của công ty thuộc do chủ sở hữu duy nhất của công ty đầu tư. Trong công ty không có sự liên kết góp vốn của nhiều thành viên như những loại hình công ty khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với số vốn là một khối thống nhất hoàn toàn độc lập với với tài sản riêng của từng thành viên trong công ty, độc lập với tài sản của công ty là phải tuân thủ theo những quy định chung của pháp luật nói chung và đối với các công ty khác nói riêng. Về chuyển nhượng vốn: Việc chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH một thành viên được quy định tại Luật doanh nghiệp 2014.
Vì đặc điểm của công ty TNHH một thành viên là chỉ bao gồm một chủ sở hữu nên khi chuyển nhượng vốn góp sẽ dẫn đến hai trường hợp: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu chủ sở hữu chỉ chuyển nhượng một phần vốn góp thì lúc này công ty sẽ có hai chủ sở hữu. Vì vậy, để đảm bảo đúng giữa loại hình công ty và cơ cấu tổ chức. Công ty TNHH một thành viên phải làm thủ tục chuyển đổi thành loại hình công ty. Doanh nghiệp có thể chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên/ công ty hợp danh/ công ty cổ phần.
Nếu chủ sở hữu chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho người khác. Thì cần làm thủ tục chuyển nhượng vốn và thủ tục thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiêp. Như vậy, chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Sau khi chuyển nhượng vốn, công ty có thể chuyển đổi thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên hoặc doanh nghiệp tư nhân.2 Cơ sơ ban hành và nội dung pháp luật về cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Lịch sử hình thành công ty TNHH Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm của hoạt động lập pháp theo sáng kiến của nhà lập pháp Đức, năm 1892 các nhà luật học của Đức đã đưa ra mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn với những lập luận sau: Thứ nhất, mô hình công ty cổ phần đang tồn tại không thích hợp với mô hình kinh tế nhỏ, các quy định quá phức tạp đối với công ty cổ phần thật không cần thiết và không phù hợp với các loại công ty vừa và nhỏ, có rất ít thành viên. Thứ hai, chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không phù hợp với tất cả các nhà đầu tư. Nhiều nhà đầu tư muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn để tránh được rủi ro, biết hạn chế rủi ro là một yếu tố quan trọng để thành đạt trong kinh doanh, do đó các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty cổ phần và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân, nhà đầu tư có thể kinh doanh vừa và nhỏ, nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập và điều hành công ty cổ phần, nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân nhưng nó vẫn mang bản chất của công ty đối vốn đó là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty, thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình vào công ty. Với những ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn, nên sau khi có luật công ty trách nhiệm hữu hạn năm 1892 của Đức được ban hành thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn đã được các nhà đầu tư lựa chọn, và từ đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn không ngừng tăng lên.
Ở Việt Nam từ năm 1986, Đảng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cùng với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các loại hình công ty. Ngày 21/12/1990 Quốc hội thông qua Luật công ty, tuy nhiên sau một thời gian đi vào thực tế áp dụng thì luật công ty đã bộc lộ những thiếu sót nhất định, chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế. Ngày 12/06/1999, Quốc hội khóa 10 đã thông qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp Nhà nước và Luật công ty. Đây được xem là văn bản ghi nhận chi tiết và khá đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp trong đó có loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng đã được đề cập khá chi tiết (được quy định tại mục 2 Chương 3 Luật doanh nghiệp 1999).
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một loại hình doanh nghiệp mới được quy định trong quá trình phát triển của pháp luật thương mại Việt Nam. Tuy nhiên Luật doanh nghiệp 1999 chỉ cho phép một tổ chức được quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Ngày 12/12/2005 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 thay thế cho Luật doanh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp Nhà nước và Luật đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam.