MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình đ i mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta bên cạnh những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đã chú trọng nhiều biện pháp tạo việc làm cho người lao động, xem việc giải quyết vấn đề lao động - việc làm là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, n định chính trị - xã hội. Việt Nam hiện đứng thứ 13 thế giới về dân số, với hơn 88 triệu người (2012). Số người trong độ tu i lao động chiếm tỷ lệ cao và ngày một tăng nhanh.
Lực lượng lao động cả nước năm 2012 là 52,3 triệu người, tăng 624 nghìn người so với năm 2011 [16]. Mỗi năm nước ta giải quyết khoảng 1 triệu việc làm mới. Tuy nhiên, hằng năm nguồn nhân lực được b sung thêm hơn 1 triệu lao động cộng với số người chưa được giải quyết việc làm năm trước làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, trong khi đó chất lượng lao động còn hạn chế càng gây khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Khu vực nông thôn nước ta hiện có khoảng 24 triệu lao động.
Nhưng trên thực tế, người lao động chỉ sử dụng khoảng 80% thời gian làm việc; 20% thời gian còn lại (tương đương với 4,8 triệu lao động) nhàn rỗi. Theo dự báo, trong 5 năm tới, số lao động ở khu vực nông thôn tăng thêm 5 triệu người, cùng với khoảng 2,5 triệu người mất việc do đất nông nghiệp chuyển đ i mục đích trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH); cộng với số lao động quy đ i do chưa sử dụng hết thời gian lao động, cả nước có tới 12,3 triệu người cần việc làm [50]. Đô thị hóa đã góp phần tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn trong nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa luôn có hai mặt: một mặt nâng cao giá trị sử dụng đất đai quốc gia, làm thay đ i diện mạo đất nước theo hướng hiện đại; mặt khác, đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng làm cho đất nông nghiệp 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngày càng bị thu hẹp lại, ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia, vấn đề việc làm và các vấn đề xã hội khác.
Thành phố Hưng Yên là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển. Cùng với quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp của thành phố ngày càng bị thu hẹp và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp đã tất yếu dẫn đến việc chuyển đ i cơ cấu lao động và việc làm của người dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của nhân dân. Vấn đề đặt ra là cơ cấu lao động và việc làm của người dân trong thành phố, đặc biệt là vùng nông thôn hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào tác động đến cơ cấu lao động việc làm của người dân? Cần có những giải pháp gì để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động - việc làm theo hướng hiện đại? Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng cơ cấu lao động - việc làm của người dân ở xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên” nhằm phân tích thực trạng để thấy rõ thành tựu và tồn tại trong cơ cấu lao động việc làm của xã Hồng Nam. Từ đó định hướng phát triển chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm của xã Hồng Nam, đồng thời đề xuất các chính sách, giải pháp để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động việc làm của xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên.
T ng quan về vấn đề nghi n c u Lao động và việc làm là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở bất cứ quốc gia nào. Nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản l của Nhà nước. Đây càng là vấn đề cấp bách rất cần được sự quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu để đưa ra những biện pháp hữu hiệu giải quyết tình trạng thừa lao động ở thành thị, thiếu lao động ở nông thôn. Do đó trong những năm qua, vấn đề lao động việc làm nói 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chung và cơ cấu lao động việc làm nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà khoa học quan tâm trên các quy mô, cấp độ khác nhau.1 Tình hình nghiên c u trong nƣớc Những năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu viết về lao động việc làm của nhiều tác giả và các nhà nghiên cứu: Cuốn sách “Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng đồng bằng Bắc bộ nước ta” của tác giả Phạm Đức Thành và Lê Doãn Khải đã đưa ra cơ sở khoa học của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
Cuốn sách cũng đưa ra các khái niệm và nội dung cơ bản của cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, các tác giả còn tập trung phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo các tác giả, xuất phát từ những đặc điểm cụ thể, trong thời gian tới, nông nghiệp nông thôn nước ta sẽ xuất hiện các xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động: ở giai đoạn đầu, lao động nông nghiệp chỉ tập trung vào độc canh cây lúa là chính chuyển sang sản xuất thâm canh tăng vụ. Ở giai đoạn tiếp theo các ngành sản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp nông thôn, ngành nghề tiểu thủ công và dịch vụ… sẽ được đầu tư để thu hút lao động nông nghiệp [24].
Tác giả Lê Xuân Bá (chủ nhiệm đề tài) với báo cáo “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam” (2006) đã đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ giữa thập kỷ 1990 đến nay, chỉ ra các yếu tố ngăn cản và thúc đẩy quá trình chuyển dịch và đưa ra các đề xuất chính sách nhằm tác động tích cực tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu t ng quát trên được chi tiết hóa bằng các mục tiêu cụ thể sau: Mô tả thực trạng và xu thế 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trong 10 năm qua: giữa các ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; cơ cấu lao động giữa các hình thức tự tạo việc làm và làm thuê. Mô tả quá trình chuyển dịch lao động nông thôn ra thành thị (theo lứa tu i, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, chuyên môn tay nghề và mức thu nhập…) trong 10 năm trở lại đây. T ng kết và xem xét tác động của các nhóm chính sách liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung và cơ cấu lao động nông thôn nói riêng.
Xác định các yếu tố chính ngăn cản và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn: trong nội bộ nông thôn; giữa nông thôn và thành thị, trong đó tập trung vào tác động của các chính sách kể trên. Đề xuất các chính sách cụ thể nhằm tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn [2]. Tập thể tác giả do giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Du Phong (năm 2007) từ kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước đã trình bày, phân tích một số vấn đề lý luận và thực trạng về thu nhập, đời sống việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị cùng các công trình công cộng phục vụ lợi ích dân sinh ở nước ta, chỉ ra những kết quả đạt được cùng những khó khăn, hạn chế. Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi; cơ chế, chính sách về đền bù và bồi thường thiệt hại; cơ chế chính sách trong công tác thu hồi và giải quyết việc làm, n định đời sống của người dân có đất bị thu hồi); về t chức quản lý (công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai và quy hoạch về việc làm, t chức khu tái định cư; tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong thu hồi đất, tạo việc làm và n định đời sống cho người dân bị thu hồi… [22].
Nghiên cứu “Việc làm của thanh niên Việt Nam: Đặc trưng, các yếu tố quyết định và ứng phó chính sách” (2007) của Đặng Nguyên Anh và cộng sự đã sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1990 (VLSS 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1990) và từ cuộc khảo sát đánh giá Thanh niên Việt Nam (SAVY 2003) để mô tả xu hướng và đặc điểm việc làm của thanh niên và thị trường lao động, xác định và đánh giá các yếu tố quyết định tình trạng việc làm của thanh niên và rà soát lại khung chính sách đối với việc làm của thanh niên. Các phát hiện nghiên cứu cho thấy có nhiều thách thức trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên. Quá trình cải cách kinh tế và c phần hóa các doanh nghiệp làm cho nhiều lao động trẻ mất việc và phải tìm kiếm việc làm mới. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được mong đợi sẽ tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động nhưng chưa thực sự tạo ra việc làm tốt cho lao động trẻ.
Nhiều lao động trẻ làm việc trong khu vực này đã phải bỏ việc vì thu nhập thấp, thiếu sự bảo trợ xã hội, điều kiện làm việc và điều kiện sống không được đảm bảo. Có một bất cập hiện nay là về mặt số lượng nguồn cung về lao động trẻ đang vượt quá so với nhu cầu của thị trường lao động. Những lợi thế so sánh của lao động Việt Nam như giá nhân công lao động thấp, sự cần cù và chăm chỉ, được đào tạo tốt đã giảm rất nhanh so với các nước trong khu vực [1].