Chương 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chương 3. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN VÀ CƠ CẤU SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thƣơng mại. NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Khi mới ra đời, NHTM hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vực thƣơng mại, nhƣng ngày nay hoạt động của nó đã mang tính tổng hợp.
Các NHTM không chỉ quan hệ rộng với mọi khách hàng thuộc các lĩnh vực và các thành phần kinh tế khác nhau, mà còn thực hiện rất nhiều các dịch vụ về tiền tệ - tín dụng [12, tr. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là quá trình phân bổ vốn vào các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Nó thực chất là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng. Những tài sản này có thể trực tiếp mang lại thu nhập cho ngân hàng (tiền gửi tại các TCTD, cho vay, chứng khoán đầu tƣ và kinh doanh, các khoản góp vốn đầu tƣ, góp vốn liên doanh liên kết,.) hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán (tiền mặt, tiền gửi thanh toán tại các NHTM khác, tiền gửi tại NHTW,.) hoặc phát huy vai trò phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng (TSCĐ, công cụ dụng cụ, vật liệu,.
Với vai trò là trung gian tài chính chủ lực, NHTM sử dụng vốn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động này góp phần điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, đem lại lợi ích cho những ngƣời dƣ thừa vốn, đồng thời đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM gồm: - Hoạt động ngân quỹ: Đây là hoạt động không sinh lời nhƣng có vai trò quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán thƣờng xuyên của ngân hàng. Hoạt động này giúp ngân 16 hàng duy trì lƣợng vốn khả dụng, tồn tại dƣới hình thức: tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTD khác.
- Hoạt động cho vay: Cho vay là hình thức sử dụng vốn truyền thống - đây là hoạt động đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Với các nƣớc có TTTC chƣa phát triển thì nguồn cung tín dụng qua hệ thống NHTM là chủ yếu đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, cho vay cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro và rủi ro xảy ra cũng thƣờng xuyên nhất. Khi RRTD xảy ra không chỉ ngân hàng, ngƣời gửi tiền, ngƣời đầu tƣ bị ảnh hƣởng mà kéo theo nhiều hậu quả cho hệ thống tài chính, cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế.
Bởi vậy, đặt ra các yêu cầu các NHTM phải đặc biệt chú ý dành nhiều nguồn lực để quản trị các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động này. - Hoạt động đầu tư: Trong xu hƣớng đa năng hóa hoạt động, các NHTM có thể đầu tƣ vào các tài sản Có có khả năng sinh lời và có tính thanh khoản cao đặc biệt là đầu tƣ vào các chứng khoán do Chính phủ, doanh nghiệp và TCTD khác có uy tín phát hành. Ngoài ra, NHTM có thể đầu tƣ vào các công ty con kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, vàng bạc, BĐS; hoặc góp vốn liên doanh liên kết với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính hoặc phi tài chính khác,.Tuy nhiên, nếu trong trƣờng hợp ngân hàng đầu tƣ sang các lĩnh vực ngoài ngành, đặc biệt ngoài ngành tài chính ngân hàng, nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, các quan hệ sở hữu của ngân hàng trở nên phức tạp và rủi ro đầu tƣ của ngân hàng sẽ cao hơn. Do đó, thƣờng NHTW các nƣớc thƣờng giới hạn lĩnh vực, tỷ lệ vốn đầu tƣ vào các lĩnh vực này.
Chẳng hạn, NHTM muốn kinh doanh BĐS, thì họ phải thành lập công ty con dƣới dạng công ty TNHHMTV, hay một tƣ cách pháp nhân khác; hoặc qui định giới hạn tỷ lệ góp vốn với doanh nghiệp liên kết. Mục đích của việc này là để dễ dàng kiểm soát và tách bạch các hoạt động, đồng thời đảm bảo an toàn cho các NHTM. - Hoạt động sử dụng vốn khác: Ngoài việc sử dụng vốn duy trì khả năng thanh toán, để sử dụng cho mục đích sinh lời: cho vay và đầu tƣ, NHTM còn sử dụng vốn để đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm máy móc trang thiết bị, công nghệ và các tài sản khác. Số 17 vốn đầu tƣ vào khoản mục này không trực tiếp sinh lời nhƣng quyết định đến trình độ công nghệ, tạo ra uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng.
Cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Về phƣơng diện triết học, khái niệm “cơ cấu” đƣợc dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành trong một tổng thể/một hệ thống. Cơ cấu đƣợc hiểu nhƣ là một tập hợp các mối quan hệ liên kết hữu cơ các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Trong kinh tế học, khái niệm cơ cấu thƣờng gắn với khái niệm về: cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu lao động, cơ cấu xuất khẩu,.
Cơ cấu của một đối tượng được định dạng tại một thời điểm nhất định thông qua mối tương quan giữa các bộ phận cấu thành và quan hệ của từng cấu thành với đại lượng tổng. Vì vậy, để mô tả cơ cấu đối tƣợng, các tỷ lệ (số tƣơng đối) đƣợc sử dụng thay cho các định mức (số tuyệt đối) [2, tr.9] Là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, do vậy phần lớn tài sản của NHTM là các tài sản tài chính. Nó tồn tại chủ yếu dƣới hình thức tiền mặt, tiền gửi, giá trị chứng khoán, cho vay đối với khách hàng,. Khi xem xét mối quan hệ giữa các khoản mục hình thành từ hoạt động sử dụng vốn trong tổng tài sản của ngân hàng đƣợc phân chia theo những tiêu thức nhất định đó chính là cơ cấu sử dụng vốn của NHTM.
Thực chất, cơ cấu sử dụng vốn của NHTM chính là tập hợp danh mục tài sản (Asset portfolio) của ngân hàng xét theo tỷ trọng từng khoản mục so với tổng thể. Nó phản ánh quyết định phân bổ vốn của nhà quản trị vào từng hình thức sử dụng vốn và nội bộ từng hình thức đó. Theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu: Cơ cấu sử dụng vốn của NHTM phản ánh một tập hợp các loại tài sản hình thành từ hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng, được sắp xếp theo những tiêu thức khác nhau và cấu thành theo những tỷ trọng nhất định. Khi ngân hàng đạt đƣợc các mục tiêu tối đa hóa tƣơng quan lợi nhuận/rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng đã thiết lập đƣợc cơ cấu sử dụng vốn tối ƣu.
Trong điều kiện hoạt động của NHTM luôn chịu tác động từ nhiều các yếu tố chủ quan và khách quan thì việc thiết lập, điều 18 chỉnh cơ cấu sử dụng vốn nhằm đạt mục tiêu là nội dung quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng. Đặc điểm cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Trên thực tế NHTM có thể khác nhau về hình thức sở hữu (có ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nƣớc hoặc Nhà nƣớc có cổ phần chi phối hoặc ngân hàng không thuộc sở hữu của Nhà nƣớc.), khác nhau về chiến lƣợc kinh doanh, về qui mô và địa bàn hoạt động,. Do đó, cơ cấu sử dụng vốn của từng NHTM cũng không giống nhau. Tuy nhiên, chúng đều có những đặc điểm cơ bản là: * Cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục sử dụng vốn của NHTM.
Trong điều kiện ngày nay, xu hƣớng các ngân hàng hoạt động theo mô hình ngân hàng tổng hợp diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, xuất phát từ chức năng, đặc thù hoạt động thì cho vay vẫn là hình thức sử dụng vốn chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Do đó, hiệu quả sử dụng vốn của NHTM phụ thuộc chủ yếu, trực tiếp vào chất lƣợng cho vay. NHTM cho vay dƣới nhiều hình thức, nhiều lĩnh vực, ngành nghề, khu vực địa lý khác nhau, do đó cơ cấu cho vay của NHTM cũng rất đa dạng.
Tùy thuộc vào lợi thế cạnh tranh, chiến lƣợc kinh doanh, cơ cấu cho vay của mỗi NHTM cũng khác nhau. Đồng thời, cơ cấu cho vay của NHTM sẽ phản ánh một cách khá toàn diện tình hình hoạt động: về quy mô hoạt động và về chất lƣợng hoạt động của mỗi ngân hàng. * Cơ cấu sử dụng vốn của NHTM luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà đây là lĩnh vực có độ nhạy cảm cao, luôn tiềm ẩn rủi ro. Liên quan đến cơ cấu sử dụng vốn của NHTM có một số rủi ro luôn gắn liền đó là: RRTD, RRTK, RRLS và rủi ro hối đoái,.
Trong đó, RRTD là rủi ro chính yếu, thƣờng xuyên nhất, xuất phát từ vị trí quan trọng của hoạt động cho vay trong kinh doanh ngân hàng. Đối với các nƣớc đang phát triển (nhƣ Việt Nam), các ngân hàng còn thiếu sự đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, hoạt động cho vay vẫn là chủ yếu và thậm chí gần nhƣ là duy nhất với các NHTM nhỏ. Vì vậy, RRTD cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Về cấu trúc thành phần, rủi ro của hoạt động cho vay có thể đƣợc chia thành hai loại căn bản: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch liên quan đến sự hoàn trả của từng giao dịch cho vay cá biệt, còn rủi ro danh mục là 19 rủi ro gắn liền với một cơ cấu cho vay đang hiện hữu của ngân hàng. Rủi ro danh mục (rủi ro cơ cấu) bao gồm hai thành phần là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung nhƣ phân tích dƣới đây [1, tr.