Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 Chương 4: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1.1 Cơ sở lý luận chung 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế bao gồm nhiều bộ phận có mối quan hệ biện chứng với nhau hợp thành cấu trúc bên trong của nền kinh tế và được sắp xếp theo một tỷ lệ nhất định trong một không gian và thời gian cụ thể.
Cơ cấu kinh tế không cố định mà luôn vận động và phát triển. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là khái niệm chỉ tổng thể các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thể hiện bằng tỷ lệ nhất định về mặt định tính và định lượng của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong một không gian va thời gian cụ thể. Khái niệm về hàng hóa Hàng hoá là một dạng vật chất được đem ra trao đổi. Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi là mua bán.
Hàng hoá có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng. Từ khái niệm đó ta thấy một sản phẩm sản xuất ra được đem ra trao đổi mới được gọi là hàng hoá; song trao đổi được thì sản phẩm đó đã có một giá trị nhất định (giá trị trao đổi) và sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng (giá trị sử dụng). Như vậy, sản phẩm hàng hoá trên thị trường chịu sự chi phối của hai quy luật: Quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Nếu sản phẩm cung vượt cầu thì sản phẩm đó hoặc là thừa hoặc phải chịu bán với giá thấp, chịu thua lỗ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 Ở khía cạnh khác, cùng một loại sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, có giá cả hợp lý, rẻ hơn thì sản phẩm đó được tiêu thụ dễ dàng. Sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao, cung cấp không ổn định thì sản phẩm đó bị thừa ế, thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường hàng hoá. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa. Thực chất CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp.
Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả nước nói chung. Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển biến quy trình kĩ thuật sản xuất từ trình độ thủ công sang một nền sản xuất tiên tiến, hướng tới một nền sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết vối công nghệ chế biến và thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn bao gồm cơ cấu ngành và nội bộ ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.
Về cơ cấu ngành và nội bộ ngành Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành trong nông nghiệp gồm trồng trọt và chăn nuôi, hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong đó ngành trồng trọt bao gồm cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây lấy gỗ và bảo vệ rừng, cây dược liệu… Trong ngành chăn nuôi bao gồm: đại gia súc, gia súc, gia cầm, vật nuôi thủy sản. Cơ cấu kinh tế phân theo ngành của nền kinh tế nông thôn bao gồm ba nhóm lớn: Nông – lâm – ngư nghiệp. Công nghiệp nông thôn (bao gồm công nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống).
Dịch vụ nông thôn (bao gồm cả dịch vụ đời sống và dịch vụ sản xuất). Trong từng nhóm lại được phân chia nhỏ hơn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cơ cấu ngành nông nghiệp dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng quá trị sản phẩm trồng trọt và tăng giá trị sản phẩm chăn nuôi; giảm tỷ trọng lao động trồng trọt, tăng tỷ trọng lao động chăn nuôi. Trong nội bộ ngành trồng trọt cũng như chăn nuôi đều cần phải dịch chuyển theo hương tăng giá trị sản phẩm của các loại cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao, có giá trị xuất khẩu và có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Sự chuyển dịch của cơ cấu ngành nông thôn là theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong đó chú trọng công nghiệp chế biến phục vụ cho xuất khẩu, và thức ăn gia súc, công nghiệp sản xuất vật liệu dùng cho cư dân và xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn. Về cơ cấu ngành và lãnh thổ Sự phân công lao động ngành thường diễn ra trong một vùng lãnh thổ nhất định. Theo đó, các ngành được bố trí theo không gian cụ thể.
Tiền đề của cơ cấu vùng là lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ theo hướng chuyên môn hóa, tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 9 trung hóa sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất tập trung có hiệu quả cao. Trong từng vùng lãnh thổ cần coi trọng chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp, đa dạng. Song so với cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế có sức ỳ lớn, cho nên việc xây dụng các vùng chuyên môn hóa cần được xem xét, nghiên cứu cụ thể, thận trọng nếu vi phạm sẽ khó khắc phục, chịu tổn thất lớn.
Sự hình thành cơ cấu vùng có hai nhóm nhân tố: Một là yêu cầu của thị trường có tác động đến cơ cấu vùng Hai là khả năng, điều kiện riêng của từng vùng, nhằm tìm kiếm những lợi thế so sánh trong sản xuất kinh doanh để thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí ít nhất, tạo ra lợi nhuận cao. Về cơ cấu thành phần kinh tế Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định chuyển nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Các thành phần kinh tế như: Nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản, liên doanh… có địa vị pháp lý như nhau, cùng bình đẳng sản xuất kinh doanh theo pháp luật. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, các thành phần kinh tế nổi lên xu thế như sau: Kinh tế nhà nước còn tồn tại và phát triển ở một số ngành dịch vụ nông nghiệp như thủy nông, vật tư, giống và thú y; Kinh tế hợp tác xã theo kiểu mới hiện nay đang từng bước hình thành; Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ ra đời đã tỏ ra phù hợp với giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình đó đang diễn ra xu hướng chuyển biến kinh tế hộ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Xu thế phát triển của kinh tế hộ từ khi có nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (5/4/1988). Đặc biệt, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai sửa đổi năm 1998, 2003 và năm 2014, ruộng đất được tích tụ với qui mô phù hợp đã và đang thực sự khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp với đặc trưng là sản xuất hàng hóa. Tỷ trọng kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 10 tế nhà nước trong nghiệp và nông thôn đã có sự giảm mạnh, tỷ trọng các thành phần kinh tế khác có xu thế tăng lên rõ rệt.
Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn luôn có 6 đặc trưng cơ bản. Một là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Hai là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn mang tính lịch sử xã hội. Ba là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn không ngừng vận động Bốn là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn gắn liền với với quá trình hợp tác và phân công lao động với bên ngoài.
Năm là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ngành nông nghiệp chiếm ưu thế, trong đó nghành trồng trọt là chủ yếu (Đặc biệt với các nước chậm phát triển) Sáu là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vận động, phát triển trên một địa bàn rộng 1. Một số vấn đề lý luận về sản xuất hàng hóa 1. Một số khái niệm cơ bản a. Khái niệm về sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của mỗi nước.
So với nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá có những ưu thế nổi bật.