Tổng quan nghiên cứu
Kể từ khi Khu chế xuất Tân Thuận – khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam được thành lập năm 1991, các khu chế xuất và khu công nghiệp (KCX-KCN) tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng vai trò mũi nhọn trong phát triển kinh tế đô thị. Tính đến hết năm 2006, thành phố đã xây dựng và đưa vào vận hành 15 KCX-KCN (gồm 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp) với tổng diện tích quy hoạch đất công nghiệp vượt 2.000 ha. Hệ thống hạ tầng này đã thu hút 1.117 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 3,53 tỷ USD, giải quyết việc làm cho 211.437 lao động và tạo ra kim ngạch xuất khẩu lũy kế 12,3 tỷ USD, đóng góp khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu phi dầu mỏ của toàn thành phố.
Tuy nhiên, mô hình phát triển công nghiệp của thành phố đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Phần lớn các dự án đầu tư có quy mô vốn nhỏ với mức bình quân chỉ 3,2 triệu USD/dự án, tập trung chủ yếu vào các ngành thâm dụng lao động giản đơn (chiếm 75,21% tổng lực lượng lao động) và sử dụng công nghệ gia công giá trị gia tăng thấp. Quỹ đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê bị thu hẹp chỉ còn 125,35 ha, trong khi có tới 444 ha đất đã cho thuê (chiếm 38% diện tích đất công nghiệp) rơi vào tình trạng chậm triển khai, đặt cọc giữ chỗ hoặc ngưng hoạt động.
Trước bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện Quyết định số 188/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đề tài xác lập mục tiêu nghiên cứu toàn diện thực trạng đầu tư, cơ cấu lao động và thương mại tại các KCX-KCN TP.HCM giai đoạn 1991-2006. Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp tái cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghệ cao, nâng cao tỷ suất sinh lời trên mỗi hecta đất và tạo bước chuyển dịch căn bản cho công nghiệp thành phố đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khối lý thuyết kinh tế phát triển chủ đạo:
- Lý thuyết hệ thống về cơ cấu kinh tế: Xem xét cơ cấu ngành nghề như một chỉnh thể thống nhất gồm các phân ngành cấp I, cấp II, cấp III có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề là quá trình biến đổi tỷ trọng giữa các ngành nhằm nâng cao năng suất các yếu tố tổng hợp, chuyển từ các phân ngành có giá trị gia tăng thấp sang các phân ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.
- Lý thuyết lợi thế so sánh và các mô hình công nghiệp hóa: Đánh giá sự chuyển tiếp từ mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (ISI) sang mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (EOI), tiến tới mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp hiện đại gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu. Khung lý thuyết này làm rõ cách thức phân bổ nguồn lực dựa trên các mối liên kết ngược (backward linkages) và liên kết xuôi (forward linkages).
Các khái niệm cốt lõi vận hành xuyên suốt đề tài bao gồm: Cơ cấu ngành nghề (CCNN), chuyển dịch CCNN, khu chế xuất, khu công nghiệp, suất vốn đầu tư trên diện tích đất, và tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu hành chính thứ cấp đáng tin cậy được thu thập từ Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP.HCM (HEPZA), Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 1991-2006 và dữ liệu đối sánh quốc tế giai đoạn 1990-2005.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện phương pháp điều tra toàn bộ tổng thể trên quy mô 1.117 dự án đầu tư (gồm 460 dự án FDI và 657 dự án trong nước) hiện diện tại tất cả 15 KCX-KCN trên địa bàn TP.HCM. Việc khảo sát toàn bộ tổng thể thay vì lấy mẫu xác suất giúp loại trừ hoàn toàn sai số chọn mẫu và phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động công nghiệp tập trung.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian (time-series analysis) từ năm 2000 đến 2006, phân tích ma trận tỷ trọng ngành và so sánh liên vùng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng chính xác nhịp độ biến động của từng phân ngành sản xuất, so sánh hiệu quả sử dụng đất và vốn giữa TP.HCM với các tỉnh công nghiệp lân cận như Đồng Nai, Bình Dương và các quốc gia ASEAN (Singapore, Malaysia, Thái Lan). Ngoài ra, phương pháp chuyên gia được sử dụng thông qua các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo các phòng ban nghiệp vụ thuộc HEPZA để thẩm định tính khả thi của các cơ chế quản lý đề xuất.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Quy mô vốn đầu tư bình quân thấp: Tính đến cuối năm 2006, vốn đầu tư bình quân trên một dự án tại các KCX-KCN TP.HCM chỉ đạt 3,2 triệu USD/dự án. Đối với khối doanh nghiệp FDI, con số này đạt 4,85 triệu USD/dự án, thấp hơn 2,58 lần so với tỉnh Đồng Nai (12,50 triệu USD/dự án) và thấp hơn mức bình quân 10,25 triệu USD/dự án của toàn bộ các dự án tại Đồng Nai.
- Sự khởi sắc trong chuyển dịch cơ cấu ngành: Giai đoạn 2000-2006 ghi nhận sự dịch chuyển vốn tích cực sang các ngành kỹ thuật. Tỷ trọng vốn đầu tư ngành cơ khí tăng mạnh từ 6,30% lên 13,37% (+7,07%), ngành dịch vụ tăng từ 0,21% lên 8,23% (+8,02%). Ngược lại, các ngành truyền thống suy giảm tỷ trọng vốn rõ rệt như chế biến gỗ giảm từ 12,60% xuống 7,85% (-4,75%), da giày giảm từ 10,94% xuống 7,91% (-3,03%), và dệt may giữ mức 14,95%.
- Tái cấu trúc tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt 2,32 tỷ USD (tăng 16,07% so với năm 2005). Trong đó, ngành cơ khí vươn lên chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao nhất với 26,64% (+7,18% so với năm 2002), ngành điện - điện tử chiếm 19,57% (+1,78%), trong khi ngành da giày giảm mạnh từ 17,60% xuống còn 9,52% (-8,08%).
- Bất cập về chất lượng nguồn nhân lực và liên kết nội địa: Trong tổng số 211.437 lao động, có tới 70,12% (150.543 người) là lao động nhập cư ngoài tỉnh và 75,21% là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên sâu. Tỷ lệ cung ứng nguyên phụ liệu nội địa cho doanh nghiệp FDI chỉ đạt khoảng 15%, làm thất thoát nguồn thu xuất khẩu tại chỗ ước tính lên đến 500 triệu USD mỗi năm.
+-------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ TẠI KCX-KCN TP.HCM |
| |
| Năm 2000: [Cơ khí: 6.30%] [Điện tử: 11.50%] [Gỗ: 12.60%] [Khác: 69.6%]|
| Năm 2006: [Cơ khí: 13.37%] [Điện tử: 12.51%] [Dịch vụ: 8.23%] [Khác] |
| |
| => Dịch chuyển rõ nét từ ngành thâm dụng lao động sang công nghệ |
+-------------------------------------------------------------------------+
Thảo luận kết quả
Thực trạng các dự án quy mô nhỏ xuất phát từ giai đoạn đầu phát triển, khi thành phố áp dụng mục tiêu "lấp đầy diện tích bằng mọi giá" để giải quyết việc làm cấp bách sau Đổi mới. Điều này dẫn đến việc giá thuê đất tại TP.HCM bị đẩy lên cao (KCX Tân Thuận đạt 2,89 USD/m2/năm, KCN Phong Phú 2,13 USD/m2/năm, so với mức 0,09 đến 1,30 USD/m2/năm tại Đồng Nai), vô tình tạo rào cản đối với các tập đoàn công nghệ lớn cần diện tích mặt bằng rộng.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu ngành tại TP.HCM mang tính tất yếu tương tự như lộ trình của các nước trong khu vực. Điển hình như Malaysia, sau khi gặp khủng hoảng thiếu hụt lao động năm 1996, quốc gia này đã tái cơ cấu công nghiệp thành công bằng cách tăng tỷ trọng xuất khẩu linh kiện điện tử từ 33,42% (năm 1990) lên 59,41% (năm 2005) và hóa chất từ 1,33% lên 4,42%. Singapore cũng đẩy mạnh tỷ trọng khối dịch vụ tài chính lên mức bình quân 24,36% GDP để tối ưu hóa diện tích đất hạn hẹp.
Toàn bộ các chuỗi biến động này có thể được biểu diễn một cách trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cơ khí - điện tử đối lập với sự sụt giảm của dệt may - da giày, kết hợp với bảng phân tích đa chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất giữa các khu công nghiệp nội thành và ngoại thành.
Đề xuất và khuyến nghị
- Tái cấu trúc quy hoạch không gian và quỹ đất công nghiệp: Ban Quản lý HEPZA phối hợp với Sở Quy hoạch - Kiến trúc rà soát toàn diện tiến độ của 15 khu hiện hữu và chuẩn bị mặt bằng phát triển 23 KCX-KCN đến năm 2020 với tổng diện tích 7.008 ha. Tiến hành thanh tra, thu hồi dứt điểm 444 ha đất chậm triển khai hoặc ngưng hoạt động trước năm 2008 nhằm ưu tiên phân bổ cho các dự án công nghệ sạch.
- Thiết lập hàng rào kỹ thuật và tiêu chí chọn lọc FDI: Ủy ban nhân dân TP.HCM cần ban hành quy định mới về suất đầu tư tối thiểu đạt từ 5 đến 8 triệu USD/ha đất công nghiệp. Giai đoạn 2007-2015, dừng cấp phép mới cho các dự án dệt may, da giày, nhuộm gia công thâm dụng lao động; tập trung xúc tiến các tập đoàn đa quốc gia thuộc 4 ngành công nghiệp mũi nhọn: cơ khí chế tạo chính xác, điện tử - vi mạch, hóa dược, và dịch vụ kho vận logistics cảng biển tại KCN Hiệp Phước.
- Nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng xã hội: HEPZA chủ trì ký kết thỏa thuận đào tạo ba bên giữa doanh nghiệp khu công nghiệp, các trường đại học kỹ thuật và cơ sở dạy nghề. Mục tiêu đến năm 2015 giảm tỷ trọng lao động phổ thông từ 75,21% xuống dưới 40%, đồng thời đầu tư xây dựng các khu lưu trú công nhân và thiết chế văn hóa đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ biến động lao động nhập cư.
- Hoàn thiện cơ chế "một cửa tại chỗ" và chính sách thuế: Đề xuất Chính phủ sớm ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 36/CP nhằm xác lập thẩm quyền quản lý nhà nước trực tiếp cho HEPZA. Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng theo Thông tư số 75/2005/TT-BTC, tạo hành lang thông thoáng để doanh nghiệp nội địa bán nguyên liệu vào KCX, nâng tỷ lệ nội địa hóa từ 15% lên 50% vào năm 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách: Ban Quản lý HEPZA, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương TP.HCM sử dụng tài liệu làm căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo Quyết định số 164/2006/QĐ-UBND và thẩm định cấp phép dự án.
- Các công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCX-KCN: Các đơn vị như IPC, ITACO, TANIMEX, SEPZONE ứng dụng mô hình phân khu chức năng chuyên biệt, quy hoạch hệ thống nhà xưởng cao tầng xây sẵn và xây dựng chính sách giá thuê đất cạnh tranh.
- Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Doanh nghiệp FDI và nhà cung ứng nội địa nắm bắt xu hướng dịch chuyển ngành nghề, định vị chiến lược đầu tư công nghệ mới và khai thác thị trường cung ứng nguyên phụ liệu tại chỗ.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật thuộc khối ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh và Quy hoạch đô thị khai thác bộ dữ liệu thực chứng 15 năm cùng hệ thống phương pháp luận nghiên cứu cơ cấu kinh tế cấp vùng.
Câu hỏi thường gặp
- Tại sao các KCX-KCN TP.HCM phải cấp bách chuyển dịch cơ cấu ngành nghề?
Vì quỹ đất sạch sẵn sàng cho thuê đến cuối năm 2006 chỉ còn 125,35 ha trong khi tỷ trọng lao động phổ thông chiếm tới 75,21%. Việc duy trì các ngành thâm dụng lao động như may mặc, da giày gây áp lực quá tải hạ tầng đô thị do 70,12% là dân nhập cư, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng thấp trên mỗi hecta đất.
- Suất vốn đầu tư bình quân tại TP.HCM chênh lệch ra sao so với các tỉnh lân cận?
Tính đến năm 2006, vốn đầu tư bình quân cho một dự án tại KCX-KCN TP.HCM chỉ đạt 3,2 triệu USD, thấp hơn 3,2 lần so với Đồng Nai (10,25 triệu USD/dự án). Riêng khối FDI, mức đầu tư bình quân tại TP.HCM là 4,85 triệu USD/dự án, trong khi Đồng Nai đạt tới 12,50 triệu USD/dự án.
- Những ngành công nghiệp nào ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc?
Ngành công nghiệp cơ khí và điện - điện tử dẫn đầu xu hướng tăng trưởng. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu ngành cơ khí tăng từ 19,46% năm 2002 lên 26,64% năm 2006, ngành điện tử đạt 19,57%. Ngược lại, ngành da giày sụt giảm tỷ trọng xuất khẩu mạnh từ 17,60% xuống chỉ còn 9,52%.
- Nguyên nhân nào khiến tỷ lệ nội địa hóa tại các khu chế xuất chỉ đạt 15%?
Nguyên nhân do năng lực sản xuất của công nghiệp phụ trợ trong nước còn yếu, thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng nội địa bán vào khu chế xuất theo Thông tư 34/1999/TT-BTC còn phức tạp, khiến các doanh nghiệp FDI ưu tiên nhập khẩu linh kiện miễn thuế từ công ty mẹ ở nước ngoài.
- Kinh nghiệm quốc tế nào từ ASEAN có giá trị thực tiễn cao nhất cho TP.HCM?
Bài học tái cấu trúc công nghiệp của Malaysia sau năm 1996 là điển hình nhất. Khi cạn kiệt nguồn lao động giá rẻ, Malaysia đã chuyển hướng mạnh sang công nghệ cao, nâng tỷ trọng linh kiện điện tử trong xuất khẩu từ 33,42% lên 59,41% vào năm 2005 thông qua ưu đãi thuế và đầu tư hạ tầng kỹ thuật chuyên sâu.
Kết luận
- Khẳng định tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại 15 KCX-KCN TP.HCM từ thâm dụng lao động sang công nghệ cao và dịch vụ giá trị gia tăng lớn.
- Chỉ rõ các nút thắt nội tại về quỹ đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê hạn chế (125,35 ha), quy mô vốn bình quân dự án thấp (3,2 triệu USD) và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu.
- Ghi nhận sự chuyển biến tích cực của nhóm ngành cơ khí chế tạo (chiếm 26,64% xuất khẩu) và điện tử (chiếm 19,57% xuất khẩu) trong vai trò trụ cột tăng trưởng mới.
- Hệ thống hóa 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch 7.008 ha đất công nghiệp đến năm 2020, nâng chuẩn thu hút vốn FDI, liên kết đào tạo nhân lực và hoàn thiện cơ chế "một cửa tại chỗ".
- Xác lập lộ trình chuyển đổi toàn diện công nghiệp khu vực đến năm 2020, bảo đảm vai trò đầu tàu kinh tế của TP.HCM trong kỷ nguyên hội nhập WTO.
Luận văn đã đóng góp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng và bức tranh dữ liệu toàn diện giai đoạn 1991-2006, tạo tiền đề vững chắc cho việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp thành phố. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư hạ tầng và giới nghiên cứu có thể khai thác trực tiếp các phân tích chuyên sâu của đề tài nhằm hiện thực hóa các mục tiêu tái cơ cấu kinh tế đô thị bền vững.