Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2000 1. Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Yên Bái và chủ trương của Đảng bộ 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Yên Bái những năm 1991 - 1995 Ngày 12/8/1991, Kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa VIII quyết định tách tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Tỉnh Yên Bái nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có địa giới giáp với 5 tỉnh (phía đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai), có diện tích 6.807 km2 với 9 đơn vị hành chính (1 thị xã, 1 thành phố và 7 huyện).
Quyết định tái lập tỉnh của Quốc hội đã bắt đầu thời kỳ mới trong lịch sử Yên Bái, đó là công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, chính trị, xã hội với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của một địa danh mới. * Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Điều kiện tự nhiên: Nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn, địa hình Yên Bái bị chia cắt bởi những dãy núi cao chạy theo hướng từ Tây xuống Đông, từ Bắc xuống Nam, nơi cao nhất là đỉnh núi Pú Luông 2.985m, nơi thấp nhất vùng trũng của Trấn Yên từ 24m đến 26m so với mực nước biển. Để tạo ra những thuận lợi trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, tỉnh Yên Bái được chia thành vùng thấp và vùng cao. Theo đó, vùng cao được tính từ độ cao 600 m trở lên so với mực nước biển, vùng này chiếm 67,56% diện tích.
Vùng thấp được tính từ độ cao 600 m trở xuống so với mực nước biển, vùng này chỉ chiếm 32,44%, với kết cấu địa hình này Yên Bái được xác định là tỉnh miền núi. Về tài nguyên đất: Yên Bái có 7 nhóm đất cơ bản: đất phù sa, đất glay, đất đen, đất xám, đất đỏ, đất mùn Alít trên núi cao, đất tầng mỏng, cùng với độ che phủ rừng 30,5% diện tích đất tự nhiên đã mang lại cho Yên Bái thảm thực vật phong phú với nhiều lâm thổ sản quý. Trong lòng đất còn có trữ lượng khoáng sản đa 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạng, có 257 điểm mỏ khoảng sản với các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại. Tài nguyên nước: Ngoài 2 dòng sông lớn là sông Hồng và sông Chảy Yên Bái còn 76 khe suối, 134 hồ.
Sông suối có độ dốc cao mang lại tiềm năng lớn về thủy điện, trong đó Hồ Thác Bà với diện tích 19.050 ha là 1 trong 3 hồ lớn nhất Việt Nam. Không chỉ là một hồ nước thủy điện khổng lồ, hồ Thác Bà còn mang lại nguồn cung cấp thủy sản to lớn, một địa điểm du lịch đầy tiềm năng, với hơn 1300 hòn đảo hồ được ví “Hạ Long trên cạn” Bên cạnh những khó khăn về địa hình, thì nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu cũng đã mang lại cho Yên Bái những thuận lợi về phát triển kinh tế nông nghiệp với thế mạnh là các vùng chuyên canh cây công nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Về kinh tế: Sau 5 năm tái lập tỉnh (1991- 1995), bộ máy hành chính và cơ chế quản lý của tỉnh được củng cố và ngày càng hoàn thiện. Đảng bộ Yên Bái đã khắc phục khó khăn, phát huy những lợi thế tạo ra những chuyển biến tích cực trong những năm đầu tái lập tỉnh.
Đảng bộ đã thực hiện chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đến năm 1995, toàn tỉnh có 2 doanh nghiệp tư nhân, 6 công ty trách nhiệm hữu hạn, 7.300 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 5.900 hộ gia đình kinh doanh dịch vụ thương mại, hơn 3.000 hộ làm kinh tế trang trại, cơ cấu kinh tế nông- lâm nghiệp chiến 55,5%, công nghiệp- dịch vụ chiếm 44,5%. Thu nhập bình quân theo đầu người năm 1995 đạt 170 USD/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 18%; 72,4 % có đường ô tô đến trung tâm xã [4, tr. Về xã hội: Năm 2010, dân số Yên Bái là 752.922 người, với 30 tộc người cư trú, trong đó 12 tộc người có số dân trên 500 người là các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Nùng, Mường, Mông, Dao, Giáy, Sán Chay (Cao Lan), Khơ Mú, Phù Lá (Xa Phó), Hoa.
Mật độ dân số 109 người/ km2; số người trong độ tuổi lao động là 400.643 người chiếm 53, 21% dân số, trong đó lao động ở thành thị là 68.754 người, ở nông thôn là 331. Lao động có trình độ tiến sĩ là 9 người, thạc sĩ là 207 người, đại học và cao đẳng là 20.085 người, còn lại là lao động phổ thổng. Cộng đồng các tộc người 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong tỉnh đã có một lịch sử cư trú lâu đời, với những bản sắc riêng đã hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc, đa dạng, có lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc anh dũng. Phát triển cơ sở hạ tầng của Yên Bái so sánh với các tỉnh đồng bằng và trung du, trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn hơn.
Vì vậy, để khắc phục những khó khăn, tìm và phát huy những thế mạnh của tỉnh, Yên Bái cần tiếp tục có những chính sách tốt để thu hút vốn đầu tư; đồng thời đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng; không ngừng nâng cao dân trí, huy động được cao nhất nguồn nội lực và nguồn ngoại lực vào quá trình CDCCKT nói chung và nông nghiệp nói riêng trong công cuộc đổi mới theo hướng CNH, HĐH. * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm 1991 - 1995 Trải qua quá trình khảo nghiệm thực tiễn, đổi mới tư duy lý luận, Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước. Đại hội khẳng định, trước hết cần đổi mới cơ cấu kinh tế, trong đó tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn XHCN. Cụ thể cần thực hiện ngay ba chương trình kinh tế lớn: lương thực – thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu.
Trên tinh thần phát triển kinh tế nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hóa, đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, Đảng ta đưa ra một loạt những chính sách trọng yếu như: Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn; chính sách kinh tế nhiều thành phần ở nông thôn, chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tài chính nhằm giải phóng sức sản xuất. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 – NQ/TW về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. Nghị quyết là bước đột phá mạnh trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, khẳng định vai trò kinh tế hộ gia đình; xác định lại vị trí của hợp tác xã và quốc doanh; thừa nhận sự tồn tại lâu dài và khuyến khích kinh tế cá thể và tư nhân trong nông nghiệp, tạo động lực giải phóng lực lượng sản xuất, chuyển nông nghiệp sang giai đoạn mới gắn với nền sản xuất hàng hóa. Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, họp tháng 3/1989 đã khẳng định: Những chuyển biến rõ rệt trong chuyển dịch cơ cấu 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có một số tiến bộ về tăng vụ và chuyển vụ, trồng cây công nghiệp dài ngày.
Nhiều hợp tác xã nông nghiệp và một số cơ sở kinh tế quốc doanh khi chuyển sang cơ chế mới, đã chủ động sắp xếp lại sản xuất và lao động trong đơn vị mình [21, tr. Hội nghị đã phát triển quan điểm và bổ sung chính sách của Đại hội VI của Đảng về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó nhấn mạnh việc cần phải đổi mới nhận thức về HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng theo tinh thần: 1- Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh được hình thành trên cơ sở tự nguyện góp vốn, góp sức và quản lý dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hóa tư liệu sản xuất, đều là hợp tác xã; 2- hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp là các đơn vị kinh tế hợp tác ở các trình độ phát triển khác nhau, vừa có sở hữu toàn dân về ruộng đất, vừa có sở hữu tập thể về vốn và quỹ không chia, vừa có sở hữu của xã viên về một số loại tư liệu sản xuất; 3- Trong cơ chế mới, gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ, nhận khoán sử dụng ruộng đất theo hợp đồng với hợp tác xã và chủ động phát triển sản xuất, kinh doanh dưới nhiều hình thức [21, tr. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả bước đầu đạt được trong công cuộc đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000. Đối với nông nghiệp, xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu hợp lý về nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp với sinh thái vùng, bảo vệ tài nguyên, gắn phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến bằng công nghệ thích hợp; xây dựng các điểm kinh tế - kỹ thuật – dịch vụ ở từng vùng và tiểu vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nông thôn.
Mục tiêu phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là: “Đặt trọng tâm vào chương trình lương thực – thực phẩm nhằm bảo đảm vững chắc nhu cầu trong nước và có khối lượng xuất khẩu lớn, nhất là gạo và sản phẩm chăn nuôi; phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày trên quy mô lớn để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu và thay thế nhập khẩu” [15, tr. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại Đại hội, một trong những Văn kiện quan trọng nhất được thông qua là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.