phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2001 đến năm 2006 Chƣơng 2. Đảng bộ tỉnh Nghệ An đẩy mạnh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2006 đến năm 2010 Chƣơng 3. Nhận xét và kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo CDCCKT từ năm 2001 đến năm 2010 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2006 1.1 Những yếu tố tác động và chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Nghệ An 1.1 Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An 1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội * Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên là 16.490,25 km2 và dân số trên 2,9 triệu ngƣời. Nghệ An có tọa độ địa lý nằm ở 180 33' đến 200 01' vĩ độ Bắc và 1030 52' đến 1050 48' kinh độ Đông. Phía tây là vùng đồi núi gồm 10 huyện, và 1 thị xã, giáp với nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 419 km đƣờng biên giới trên bộ. Phía đông giáp biển dài 82 km với phần diện tích đồng bằng và duyên hải ven biển gồm 7 huyện, thành phố Vinh và 2 thị xã là Cửa Lò và Thái Hòa với 473 xã, phƣờng, thị trấn.
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam tỉnh Hà Tĩnh. Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây. Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum - Luôngpabang - Viêng Chăn - Băng Cốc và ngƣợc lại qua quốc lộ 7 và quốc lộ 8). Nghệ An nằm trên các tuyến đƣờng quốc lộ Bắc - Nam (tuyến quốc lộ 1A dài 85 km đi qua các huyện Quỳnh Lƣu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hƣng Nguyên và thành phố Vinh, đƣờng Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 1A dài 132 km đi qua các huyện Quỳnh Lƣu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chƣơng và thị xã Thái Hoà, quốc lộ 15 ở phía Tây dài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh); các tuyến quốc lộ chạy từ phía Đông lên phía Tây, nối với 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc bạn Lào thông qua các cửa khẩu (quốc lộ 7 dài 225 km, quốc lộ 46 dài 90 km, quốc lộ 48 dài trên 160 km).
Tỉnh có tuyến đƣờng sắt Bắc - Nam dài 94 km chạy qua. Về địa hình, nằm ở Đông Bắc dãy Trƣờng Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối. Về tổng thể, địa hình bị chia cắt mãnh liệt và nghiêng theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diện tích lãnh thổ.
Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 80 chiếm gần 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn 250. Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lƣu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2 m so với mặt nƣớc biển (xã Quỳnh Thanh, Quỳnh Lƣu). Địa hình đồng bằng tích tụ, chỉ chiếm 14% diện tích tự nhiên cả tỉnh, tập trung ở phía Đông và Đông Nam. Vùng đồng bằng chủ yếu do phù sa sông Cả bồi đắp, độ phì nhiêu thấp hơn so với đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ.
Bề mặt bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra sát biển. Về đất đai, đặc điểm địa chất phức tạp là cơ sở để sinh ra một nền thổ nhƣỡng đa dạng, nhiều lợi thế nhƣng đồng thời cũng không ít nhƣợc điểm. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành đất đai là địa hình nhiều đồi núi nghiêng dốc mạnh, khí hậu nhiệt đới, sông ngòi ngắn, dốc, đồi núi chịu nhiều tác động mạnh của nạn du canh du cƣ và khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý. - Đất phù sa: Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5 nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa.
Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và nhóm đất cát, có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đất phù sa thích hợp với canh tác cây lúa nƣớc và màu: Bao gồm đất phù sa đƣợc bồi hàng năm, đất phù sa không đƣợc bồi, đất phù sa lầy úng, đất phù sa cũ có sản phẩm Feralit. Ngoài hai loại đất chính trên còn có đất cồn cát ven biển và đất bạc màu, tuy nhiên, diện tích nhỏ và có nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp. - Đất Ferarit: Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng núi (74,4%) và bao gồm các nhóm đất sau: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét; đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết; đất vàng đỏ phát triển trên các đá axít; đất đỏ nâu trên đá vôi; Đất nâu đỏ trên bazan; đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao.
Loại đất này phù hợp để trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Về khí hậu, Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là nơi gặp nhau của khí hậu gió mùa chí tuyến Bắc và gió mùa xích đạo phía Nam. Phía Tây có dãy Trƣờng Sơn tiếp giáp với Lào, phía Đông tiếp giáp với biển Đông. Do vậy khí hậu Nghệ An có những điểm riêng có mùa đông lạnh và chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mƣa nhiều và mùa đông lạnh, ít mƣa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 240C, tƣơng ứng với tổng nhiệt năm là 8. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 330C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,70C; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trƣớc đến tháng 2 năm sau) là 190C, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,50C. Số giờ nắng trung bình/năm là 1.
Nghệ An là tỉnh có lƣợng mƣa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc. Lƣợng mƣa bình quân hàng năm dao động từ 1.000 mm/năm với 123 - 152 ngày mƣa, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai mùa rõ rệt: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa chỉ chiếm 15 - 20% lƣợng mƣa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1 và 2; lƣợng mƣa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng. - Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa tập trung chiếm 80 - 85% lƣợng mƣa cả năm, tháng mƣa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lƣợng mƣa từ 220 - 540mm/tháng, số ngày mƣa 15 - 19 ngày/tháng, mùa này thƣờng kèm theo gió bão. Trị số độ ẩm tƣơng đối trung bình năm dao động từ 80 - 90%, độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa.
Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%; vùng có độ ẩm cao nhất là thƣợng nguồn sông Hiếu, vùng có độ ẩm thấp nhất là vùng núi phía Nam (huyện Kỳ Sơn, Tƣơng Dƣơng). Lƣợng bốc hơi từ 700 - 940 mm/năm. Nghệ An chịu ảnh hƣởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam. - Gió mùa Đông Bắc thƣờng xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 - 10oC so với nhiệt độ trung bình năm.
- Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trƣng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này thƣờng xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày. Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hƣởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh. Bên cạnh những yếu tố chủ yếu nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hƣởng của bão và áp thấp nhiệt đới.
Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thƣờng tập trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sƣơng muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng trung du có điều kiện địa hình và thổ nhƣỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không khí lạnh và sự mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất nhƣ khu vực Phủ Quỳ. Về sông ngòi, Nghệ An có mật độ sông ngòi dày đặc, mật độ lƣới sông từ 0,6 – 0,7 km/km2 và có 7 lƣu vực sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên 6 trong số này là các sông ngắn ven biển có chiều dài dƣới 50 km, duy nhất có sông Cả với lƣu vực 15.346 km2, chiều dài 361 km. Có 117 thác lớn nhỏ có khả năng xây dựng thủy điện.
Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ trọng lớn nên mạng lƣới sông suối trong khu vực khá phát triển với mật độ trung bình đạt 0,62 km/km 2 nhƣng phân bố không đều trong toàn vùng. Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lƣới sông suối phát triển mạnh trên 1 km/km2, còn đối với khu vực trung du địa hình gò đồi nên mạng lƣới sông suối kém phát triển, trung bình đạt dƣới 0,5 km/km2. * Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên rừng, Với 972.910 ha diện tích đất có rừng, rừng tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn với diện tích 732.741 ha, rừng trồng chiếm 152.867 ha, độ che phủ đạt gần 54%. Rừng Nghệ An mang nhiều nét điển hình của thảm thực vật rừng Việt Nam.
Theo thống kê có đến 153 họ, 522 chi và 986 loài cây thân gỗ, chƣa kể đến loại thân thảo, thân leo và hạ đẳng. Trong đó có 23 loài thân gỗ và 6 loài thân thảo đƣợc ghi vào sách đỏ Việt Nam.