Chương 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2000. Chương 2: Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên tăng cƣờng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2001 đến năm 2014. Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trƣơng của Đảng bộ 1.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Điều kiện tự nhiên ,kinh tế, văn hóa, xã hội. Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 3 thị trấn. Là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên là 25.667 km2, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 55 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20 km. Phía Bắc giáp với thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ. Phía Đông giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình. Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc Với vị trí trên, huyện Phổ Yên có nhiều tiềm năng và cơ hội để thu hút các dự án đầu tƣ, là cơ sở giúp quá trình CNH - HĐH diễn ra nhanh hơn.
Về địa hình Huyện Phổ Yên thuộc vùng gò đồi của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm vùng núi thấp và đồng bằng. Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 2 vùng rõ rệt: + Vùng phía Đông (hữu ngạn sông Công) gồm 11 xã và 2 thị trấn, có độ cao trung bình 8 – 15 m, đây là vùng gò đồi thấp xen kẽ với địa hình bằng, có thể gọi là vùng “đồng bằng” của huyện. Đây là vùng trọng điểm lúa và rau màu của huyện, có kinh nghiệm trong việc trồng lúa nƣớc, sản xuất công nghiệp TTCN, kinh doanh dịch vụ và làm nghề truyền thống. + Phía Tây (tả ngạn sông Công) gồm 4 xã, 1 thị trấn, là vùng núi của huyện, địa hình đồi núi là chính, cao nhất là dãy Tạp Giàng 515 m.
Độ cao trung bình ở vùng này là 200 – 300 m. Đây là các xã vùng núi của huyện, có thế mạnh trồng cây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, khai thác chế biến lâm sản, vùng trồng cây nguyên liệu cho nghề mây tre đan, chăn nuôi gia súc… Quỹ đất vùng này còn khá dồi dào. Về khí hậu Phổ Yên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa nóng, mƣa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa lạnh, mƣa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C, tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 là tháng lạnh nhất (15,60C). Số giờ nắng cả năm là 1.628 giờ, năng lƣợng bức xạ đạt 115 kcal/cm2. Chế độ mưa: Mƣa phân bố không đồng đều trong năm. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 91,6% lƣợng mƣa cả năm.
Mùa mƣa trùng với mùa lũ nên thƣờng gây úng lụt cho vùng thấp của huyện. Lƣợng bốc hơi: Trung bình năm đạt 985,5 mm, trong năm có 5 – 6 tháng lƣợng bốc hơi lớn hơn lƣợng mƣa. Chế độ thủy văn Chế độ thủy văn các sông qua địa phận Phổ Yên phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mƣa và khả năng điều tiết của lƣu vực sông Công và sông Cầu. Mùa lũ trên 2 hệ thống sông Công và sông Cầu thƣờng trùng vào mùa mƣa (từ tháng 5 đến tháng 10), xuất hiện nhiều nhất vào các tháng 6,7,8,9.
Bình quân mỗi năm có từ 1,5 – 2 trận lũ, năm nhiều nhất có 4 trận lũ xuất hiện. Mùa cạn ở 2 hệ thống sông kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau). Lƣợng nƣớc trên các sông này bình quân chỉ đạt 1,5 – 2% tổng lƣợng nƣớc cả năm. Đây là yếu tố bất lợi cho sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn huyện.
Tài nguyên đất Theo kết quả điều tra và tổng hợp trên bản đồ thổ nhƣỡng tỷ lệ 1/25.000, huyện Phổ Yên có 10 loại đất chính. Trong đó có các loại đất phù sa, bạc màu, dốc tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thƣờng có độ dốc thấp, tầng đất dày > 100 cm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhƣng loại đất này chỉ chiếm 35% diện tích tự nhiên toàn huyện. Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích chiếm 61,6% diện tích toàn huyện, hầu hết có độ dốc >250. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 25.
Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 18.435,68 ha (năm 2014), chiếm 71,82% tổng diện tích đất tự nhiên và giảm dần do đất đai đƣợc chuyển sang xây dựng các công trình nhƣ trƣờng học, đƣờng giao thông, khu công nghiệp. Tỷ trọng đất lâm nghiệp giảm từ 28,70% năm 2008 xuống còn 25,32% năm 2014. Nguyên nhân là do một bộ phận đất lâm nghiệp đã đƣợc chuyển sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn trong diện tích đất tự nhiên toàn huyện (từ 20,13% năm 2008 lên 27,24% năm 2014).
Diện tích này tăng lên qua các năm do đất giao thông, đất xây dựng cơ bản tăng mạnh, đất xây dựng khu công nghiệp. Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp có xu hƣớng ngày càng giảm nên đã gây ra sức ép phải tăng cƣờng thâm canh trong sản xuất nông nghiệp, phát triển các ngành nghề phụ trong đó có các nghề tiểu thủ công nghiệp, nhƣng nó cũng là một cơ hội cho huyện phát triển kinh tế, văn hóa và dịch vụ. Tài nguyên rừng Theo số liệu thống kê năm 2014, diện tích rừng của huyện là 7.367,75 ha (chiếm 28,7% diện tích tự nhiên), trong đó rừng sản xuất là 5.222,62 ha, rừng phòng hộ là 2. Tập đoàn cây rừng chủ yếu là bạch đàn, mỡ, bồ đề, keo, tre, mai.
Lƣợng tăng trƣởng đạt 5,5 – 6,5 m3/ha/năm. Phổ Yên là huyện chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng nên diện tích đất lâm nghiệp không lớn và tập trung chủ yếu ở các xác phía Tây của huyện. Những xã có thảm rừng lớn là Phúc Tân (2.260,53 ha), Phúc Thuận (2.836,30 ha), Thành Công (1.6] Về dân số Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số toàn huyện Phổ Yên là 146,243 nghìn ngƣời, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện khoảng trên dƣới 1% (tỷ lệ sinh khoảng trên dƣới 1,3%); trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao nhất là 1,06% (năm 2005) và thấp nhất là 0,88% (năm 2004) số dân trong độ tuổi lao động của Phổ Yên hiện nay là 84.298 ngƣời chiếm 59,69% tổng dân số toàn huyện, tốc độ tăng trƣởng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 lao động bình quân hàng năm giai đoạn 2010- 2014 là 1,16%, nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Dân số tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 95,69%.
Cơ cấu lao động theo ngành có xu hƣớng chuyển dịch theo hƣớng phù hợp với xu hƣớng phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp hiện nay còn 73,75%, cao hơn mức chung của toàn tỉnh hiện nay đạt 65,67% năm 2005, tốc độ chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng cơ cấu lao động công nghiệp chiếm 7,8% thấp hơn mức chung của tỉnh khá nhiều, thấp nhất trong cơ cấu lao động của 3 nhóm ngành của huyện, năm 2014 cơ cấu lao động công nghiệp của tỉnh chiếm 13,54% và có tốc độ chuyển dịch khá nhanh, ngành dịch vụ hiện có tỷ trọng 12,97%. Trong đó, năm 2014, cơ cấu lao động ngành dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên là 18,87%. Tốc độ tăng trƣởng lao động ngành dịch vụ thấp nhất so với các ngành khác và so với mức của toàn tỉnh. Điều này giải thích trong cơ cấu thu nhập của huyện, tỷ trọng ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Phổ Yên hiện nay mới chiếm khoảng gần 20% trong cơ cấu kinh tế huyện.
Về lao động Theo số liệu thống kê năm 2014, toàn huyện có 91.230 lao động trong độ tuổi (chiếm 66% tổng dân số của huyện), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 86.000 ngƣời, trong đó lao động ngành nông lâm nghiệp chiếm 86%. Còn lại là trong công nghiệp và thƣơng mại – dịch vụ.4] Về giao thông Mạng lƣới đƣờng bộ trên địa bàn huyện Phổ Yên gần trục Quốc lộ 3 dài 13 km chạy qua trung tâm huyện theo hƣớng Bắc Nam. Từ trục Quốc lộ 3 này là các đƣờng xƣơng cá đi đến trung tâm các xã, thị trấn và khu vực dân cƣ. Tổng chiều dài đƣờng liên huyện là 27 km, bao gồm các tuyến Ba Hàng - Tiên Phong, đƣờng 261 (Ba Hàng – Phúc Thuận).
Từ Quốc lộ 3 đi Chã và từ đƣờng 261 đi Thành Công, các tuyến này hiện nay đều là đƣờng cấp phối. Đƣờng liên xã có khoảng 19 km, liên thôn 30 km. Trong phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn hiện nay, nhiều tuyến đã đƣợc bê tông hóa theo phƣơng châm nhà nƣớc và nhân dân cùng làm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Tuyến đƣờng sắt Hà Nội – Thái Nguyên qua địa bàn huyện Phổ Yên chủ yếu vận chuyển than và quặng sắt, đoạn qua huyện dài khoảng 19 km, huyện đã bê tông hóa đƣợc 250 km kênh mƣơng nội đồng, xây dựng thêm đƣợc một số trạm bơm dầu, bơm điện.
Từ kết quả của công tác thủy lợi đã đƣa diện tích 2 vụ lên gần 4. Hệ thống điện, thông tin, liên lạc Tính đến 2014, 100% số xã, thị trấn trong huyện đã đƣợc sử dụng điện lƣới quốc gia, số hộ dùng điện đạt 100%. Mạng lƣới điện hiện còn bộc lộ nhiều bất cập, chƣa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và sinh hoạt. Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông của huyện khá hoàn chỉnh.
Đến nay, mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn, sóng điện thoại di động phủ 13/15 xã, thị trấn. Hệ thống giáo dục, y tế Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện Phổ Yên trong những năm qua đã đạt đƣợc những kết quả đáng khích lệ, huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào tháng 12/2003, sớm 1 năm so với kế hoạch. Phổ Yên luôn là đơn vị dẫn đầu của tỉnh trong công tác xây dựng trƣờng chuẩn quốc gia.