Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ THUYET VE KHÁCH HÀNG VA QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Một số khái niệm — Khách hàng: Khách hang (customer) là tập hợp những cá nhân, nhóm người, tô chức, chi nhánh, doanh nghiệp,. có nhu câu sử dụng sản phâm của công ty và có mong muôn được thỏa mãn nhu câu đó của mình.
Khách hàng là người có điều kiện ra quyết định mua sắm. Họ là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chât lượng của sản phâm hoặc dịch vụ. — Quản ly quan hệ khách hàng: Quản lý quan hệ khách hang (Customer Relationship Management - CRM) là thuật ngữ xuất hiện từ đầu những năm 1990 tại các công ty tư vấn kinh doanh Mỹ. Mong muốn của các chuyên gia khi xây dựng CRM là nhằm tạo ra một phương pháp có thê phát hiện các đối tượng tiềm năng, biến họ thành khách hàng, và sau đó duy trì lâu dài các khách hàng này cho công ty.
Đây là một phần mềm giúp các công ty phục vụ khách hàng tốt hơn. Hoạt động của CRM tạo nên một môi trường tựa như “văn phòng ảo” giúp cho việc quản lý được liên tục, không phụ thuộc vào việc nhân viên đang làm việc tại nhiệm sở hay đang đi công tác.CRM là một phương pháp giúp các doanh nghiệp tiếp cận và giao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống và hiệu quả, quản lý các thông tin của khách hàng như thông tin về tài khoản, nhu cau, liên lạc và các van đề khác nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn. (2014), cac muc tiéu tổng thé là tim kiếm, thu hút, giành niềm tin khách hàng mới, duy trì những đối tác đã có, lôi kéo khách hàng cũ trở lại, giảm chỉ phí tiếp thị và mở rộng dịch vụ khách hàng. Việc đo lường và đánh giá mối quan hệ với khách hàng là rất quan trọng trong mục tiêu thực hiện chiến lược.
Hiện nay trên thế giới có rât nhiều định nghĩa về CRM, những định nghĩa này được các nhà cung câp CRM đưa ra, có thê kê ra một sô định nghĩa như sau: “CRM như một chiến lược kinh doanh với kết quả tối ưu hóa lợi nhuận, doanh thu và sự hài lòng của khách hàng được tô chức xung quanh các phân khúc khách hang, bồi dưỡng đáp ứng hành vi khách hàng và thực hiện các quá trình khách hàng trung tâm." (Theo Ed Thompson, 2003) “CRM là một ứng dụng được sử dụng để tự động hóa các chức năng bán hàng và tiếp thị và quản lý bán hàng và các hoạt động dịch vụ trong một tô chức.” (theo Phan Văn Thanh, 2007) “CRM, hoặc quản lý quan hệ khách hàng, là một chiến lược kinh doanh toàn công ty thiết kế dé giảm chi phí và tăng lợi nhuận bang cách củng có sự hai lòng của khách hàng, lòng trung thành, và vận động. CRM tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn dữ Chu Van An — MSV: 11180004 — Toán Tài chính 60 mm CHUYEN DE TOT NGHIỆP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN TÀI CHÍNH Cử liệu trong một tổ chức (và khi thích hợp, từ bên ngoài tổ chức) dé cung cấp cho một, toàn điện quan điểm của mỗi khách hàng trong thời gian thực. Điều này cho phép khách hàng phải đối mặt với nhân viên trong các lĩnh vực như bán hàng, hỗ trợ khách hàng, và tiếp thị để đưa ra quyết định nhanh chóng được thông báo về tất cả mọi thứ từ cross-bán và upselling cơ hội dé nhăm mục tiêu chiến lược tiếp thị để chiến thuật định vị cạnh tranh”. (Theo Parks Associates, 2003) “CRM là chữ viết tắt của Customer Relationship Management, tạm dịch là quản lý khách hàng, là một phần mềm dùng để quản lý các trạng thái làm việc với từng khách hàng của từng nhân viên, qua đó bạn sẽ biết được chỉ tiêu, doanh thu, lợi nhuận của từng nhân viên, từng phòng ban và tiện lợi trong việc theo dõi báo cáo theo thời gian thực băng Internet”.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất về mặt tư tưởng, đều tập trung vào những hoạt động hướng tới giá trị mà doanh nghiệp dành cho khách hàng. Giá trị dành cho khách hàng là sự chênh lệch giữa tổng giá trị khách hàng nhận được so với tổng chi phí của khách hàng. Tổng giá trị của khách hàng là toàn bộ những lợi ích mà khách hàng mong đợi ở một sản phẩm dịch vụ nhất định. Và dĩ nhiên khách hàng sẽ duy trì mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp mà cung cấp cho họ nhiều giá trị nhất, thông qua các yếu tố: giá, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối, dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Vì vậy các doanh nghiệp cần nỗ lực một cách đồng bộ trong mọi hoạt động của tổ chức dé xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng. — Sự rời bỏ của khách hang: Sự rời bỏ của khách hàng là hiện tượng khách hàng của một doanh nghiệp không còn mua hàng hoặc tương tác với doanh nghiệp. Một sự rời bỏ cao có nghĩa là số lượng khách hàng không còn muốn mua hàng hóa và dịch vụ từ doanh nghiệp ngày cảng cao. Tỷ lệ rời bỏ khách hàng là phép tính toán tỷ lệ phần trăm khách hàng không có khả năng thực hiện giao dịch mua khác từ một doanh nghiệp.
Theo Molly Galetto (2016), sự rời bỏ của khách hàng xảy ra khi khách hàng quyết định không tiếp tục mua sản phẩm / dịch vụ từ một tô chức và kết thúc giao dịch với tô chức đó. Đây là một chi số không thể thiếu cho các tô chức vì dé có được một khách hàng mới có thể tốn kém hơn rất nhiều so với việc giữ chân một khách hàng hiện tại. Mặt khác, việc giữ chân khách hàng thường hiệu quả hơn về mặt chi phí vì bạn đã giành được sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng hiện tại. Sự rời bỏ của khách hang có thé là một rào cản cho sự tăng trưởng của tô chức theo cấp số nhân và cần phải có một chiến lược chăm sóc khách hàng hợp lý để tránh sự gia tăng tỷ lệ rời bỏ khách hàng.
Phân loại và các đặc trưng cơ bản — Phân loại khách hàng: Chu Van An — MSV: 11180004 — Toán Tài chính 60 CHUYÊN DE TOT NGHIỆP - CHUYEN NGÀNH TOÁN TÀI CHÍNH &) Từ các khái niệm ở trên, ta có thé phân loại khách hang theo nhiều cách. Xét trên góc độ hành vi mua của khách hang dé phân loại thì khách hang được phân thành 2 loại: + Khách hàng cá nhân (Retail customers): là nhóm khách hàng quyết định mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, thường đơn giản hơn so với khách hàng tô chức, chịu sự tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Khách hàng cá nhân thường chiếm số lượng rất lớn, nhưng mức độ trung thành thấp hơn so với tô chức. + Khách hang tổ chức (Corporate customers): là nhóm khách hàng thường có nhu cầu sử dụng số lượng sản phẩm lớn.
Nhóm khách hàng này thường có những quyết định mua sắm có tính chất phức tạp hơn, mắt nhiều thời gian hơn so với khách hàng cá nhân. Những vụ mua sắm của khách hàng tô chức thường liên quan đến số tiền khá lớn, có sự cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và tiến trình mua cũng quy cách hơn, chịu sự ảnh hưởng qua lại của nhiều người trong tổ chức. Tuy nhiên, khách hàng tổ chức là nhóm khách hàng đem lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp và mức độ trung thành vơi doanh nghiệp cao hơn khách hàng cá nhân. Xét trên góc độ không gian thì khách hang có thé phân làm2 loại: + Khách hàng bên ngoài: Day là những khách hàng thực hiện các giao dịch với doanh nghiệp, băng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua điện thoại hay giao dịch trực tuyến.
Đây chính là cách hiểu truyền thống về khách hàng, không có những khách hàng như thé này, doanh nghiệp cũng không thé tồn tại. Những khách hàng được thỏa mãn là những người mua và nhận sản phẩm, dịch vụ của chúng ta cung cấp. Khách hàng có quyền lựa chọn, nếu sản phẩm va dich vụ của chúng ta không làm hài lòng khách hàng thì họ sẽ lựa chọn một nhà cung cấp khác. Khi đó doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại.
Những khách hàng được thỏa mãn là nguồn tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và họ chính là người tạo nên sự thành công cho doanh nghiệp. Khách hàng chính là ông chủ của doang nghiệp, họ là người trả lương cho chúng ta băng cách tiêu tiền của họ khi dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. + Khách hàng nội bộ: nhan viên chính là những “khách hàng” của doanh nghiệp, và các nhân viên cũng chính là khách hàng của nhau. Về phía doanh nghiệp, họ phải đáp ứng được nhu cầu của nhân viên, có những chính sách nhằm phát huy lòng trung thành của nhân viên.
Bên cạnh đó, giữa các nhân viên cũng cần có sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc. Với khái niệm về khách hàng được hiểu theo một nghĩa rộng, doanh nghiệp sẽ có thể tạo ra một dịch vụ hoàn hảo hơn bởi chỉ khi nào doanh nghiệp có sự quan tâm tới nhân viên, xây dựng được lòng trung thành của nhân viên, đồng thời, các nhân viên trong doanh nghiệp có khả năng làm việc với nhau, quan tâm đáp ứng nhu cau và làm hai lòng đồng nghiệp thì họ mới có được tinh thần làm việc tốt, mới có thể phục vụ các khách hàng bên ngoài của doanh nghiệp một cách hiệu qua, thống nhất. Chu Van An — MSV: 11180004 — Toán Tài chính 60 CHUYEN DE TOT NGHIỆP - CHUYÊN NGÀNH TOÁN TÀI CHÍNH Cử — Vai trò của khách hàng đối với doanh nghiệp: Theo như Tom Peters (1982) đã từng chia sẻ răng: Khách hàng là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. Và di nhiên nó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không được ghi nhận trong báo cáo công ty.
Vậy nên các công ty cần luôn luôn xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và không ngừng huy động vốn. Người cha đẻ của ngành quản tri — Peters Drucker — thì nhận định “tao ra khách hàng” là mục tiêu của công ty. Khi phục vụ khách hàng, hãy tâm niệm rằng không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ. Nhà sáng lập tập đoàn Walmart, tập đoàn bán lẻ đa quốc gia lớn nhất Hoa Kỳ Sam Walton — thì nhận định những vai trò to lớn của khách hàng như sau: + “Khách hang là người không phụ thuộc vào chúng ta, chúng ta (những người bán hàng) phụ thuộc vào họ.