Mở đầu bao gồm sự cấp thiết của dé tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ePhan 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm: bao gồm tổng quan về cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trong và ngoài nước về các yêu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu thủy sản và mô hình nghiên cứu. ePhần 3: Thực trạng hoạt động xuất khâu thủy sản VN sang thị trường EU. ePhan 4: Phân tích định lượng dé tìm kiếm băng chứng thực nghiệm về các yêu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản VN sang thị trường EU.
ePhan 5: Kết luận va đề xuất chính sách. CƠ SỞ LÍ THUYET VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM. Khai niệm và vai trò của ngành thủy san 2. Khái nệm: Ngành thủy sản là ngành nghiên cứu về sự khai thác, nuôi trồng, vận chuyên thủy sản khai thác: bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Các loại hình thủy sản: “Đánh bắt thủy sản hay khai thác thủy sản là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Sản phẩm của khai thác thủy sản bao gồm: o Cá thực phâm cho tiêu thụ trực tiếp của con người; o Con giống (cá bố mẹ, cá giống) cho nuôi trồng thủy sản và cho Đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng thủy sản; o Thức ăn cho gia súc và nuôi trồng thủy sản. “Nuôi trồng thủy sản là hoạt động đem con giống tự nhiên hay nhân tao thả vào thiết bị nuôi và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi. Sản phẩm của nuôi trồng thủy sản bao gồm: o Sản xuất con giống nhân tạo cho nuôi trồng thủy sản và đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng; o Cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp cua con người; o Nuôi trồng thủy sản cũng bao gồm sản xuất cá mồi cho khai thác thủy sản hay vỗ béo cá tự nhiên.
“Đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng thủy sản là hoạt động đem con giống nhân tạo thả vào các thủy vực tự nhiên (hồ chứa, sông ngòi và biển) để tăng sản lượng đánh bắt. Đặc điểm chủ yếu của sản xuất kinh doanh thủy sản s* Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống đưới nước Đối tượng sản cuất của ngành thủy sản là những cơ thể sống, là các loại động thực vật sinh trưởng, phát sinh, phát triển, phát dục ở môi trường nước, cho nên con người phải nghiên cứu, tạo ra môi trường sống thích hợp cho từng đối tượng dé giúp thúc day khả năng sinh trưởng và phát trién. % Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thay thé được Đất dai là tư liệu dé sản xuất, tuy niên nó lại đặc biệt hơn các tư liệu khác ở chỗ: diện tích của nó có giới han, vi trí được cố định, sức sản xuất của nó không có giới hạn và nếu biết cách sử dụng hợp lý thì đất đai điện tích mặt nước không hao mòn còn trở nên tốt hơn, mặt khác, đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng, nguyên nhân là do cáu tao thé nhưỡng, vi trí địa hình dẫn đến màu mỡ của dat đai diện tích mặt nước giữa các vùng là khác nhau. Chính vì vậy, khi ta sử dụng nó phải hết sức tiết kiệm, quản lý chặt chẽ trên cả ba mặt pháp chế, kinh tế và kỹ thuật.
s* Sản xuất thủy sản có tính thời vụ Trong nuôi trồng thủy sản, các đối tượng được nuôi sẽ phải chiu sự tác động trực tiếp từ con người và cả của môi trường tự nhiên. Vì vậy trong nuôi trồng thủy sản, hai quá trình tái sản xuất kinh tế và quá trình tái sản xuất tự nhiên sẽ được diễn ra xen kẽ, thời gian lao động không hoàn toàn trùng với thời gian sản xuất, cho nên ngành nuôi trồng thủy sản csot ính thời vụ rõ rệt. s Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng và có sụ phức tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là các loại động vật máu lạnh, sống ở môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều yếu tố môi trường như thủy lý, thủy sinh và thủy hóa. Do vậy, con người phải tạp ra môi trường sống phù hợp với từng đôú tượng dé các đốu tượng nuôi trồng được phát triển hơn.
Các biện pháp kỹ thuật sản xuất phải thực sự phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với các quy luật sinh trưởng, phát triển, sinh sản của đối tượng nuoi trồng sẽ giúp cho đối tượng nuôi phát triển tốt, năng suất, sản lượng cao và ồn định. Ngoài ra, hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời với các điêu kiện như khí hậu, thời tiết, yêu tô môi trường,. và sinh vật có anh hưởng tác động lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến hóa khó lường. Vai trò của ngành thủy san: * Nguồn cung thực phẩm cho người dân Số liệu tổng hợp cho thấy 90% sản lượng đánh bắt thủy sản ở nước ta được dùng làm thực phẩm dé đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam.
Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng rãi khắp cả nước góp phần cung cấp thực phẩm và nguồn dinh dưỡng to lớn cho con người. Từ đồng bằng đến trung du mén núi, hầu hết tất cả các diện tích ao hồ nhỏ đều được sử dụng cho hoạt động nuôi trồng thủy sản. Có thể thấy rằng, mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng nắm một vi trí quan trọng trên thi trường trong nước cũng như nước ngoài. * Đảm bao an ninh lương thực thực phẩm Ngành thủy sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu, cung cấp đầy đủ sản phẩm thủy sản dé phục vụ cho nhân dân cả nước.
Ngành thủy sản đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, ngoài ra còn tạo việc làm cho một bộ phận lao động vùng ven biển và nông thôn. Những năm gần đây, công tác khuyến ngư của Đảng và nhà nước tập trung vào hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản hộ gia đình đã phần nào giải quyết cơ bản được một số vấn đề việc làm của ngư dân ven biên. * Xóa đói giảm nghèo Nhờ vào hoạt động phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản trên cả nước, đặc biệt là vùng ven bién, vùng sâu vùng xa mà ngành thủy sản không những cung cấp nguồn đinh dưỡng đồi dào, đảm bảo an ninh thực pham mà còn xóa đói giảm nghèo cho người dân Việt Nam. Từ năm 2000, tại các vùng duyên hải đã ap dụng theo mô hình nuôi thâm canh theo moo hình công nghệ nuôi công nghiệp, hình thành các vùng nuôi tôm rộng lớn theo quy mô sản xuất công nghiệp, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã nhanh chóng giàu có hơn và rất nhiều hộ gia đình đã thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thủy sản.
* Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn Nước ta có đầy đủ điều kiện để hình thành và phát triển toàn diện một nền kinh tế biển. Trong những năm qua, việc xây dựng nhiều công trình hồ đập thủy điện khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, có thé coi rằng là một thảm họa, một ảnh hưởng xấu tới nền canh tác công nghiệp lúa nước. Nhưng chính đây lại là một tiềm năng mới cho hoạt động nuôi trồng thủy sản nước mặn, có thể tạo ra hiệu quả canh tác cao gấp nhiều lần canh tác lúa nước. Chính vì vậy, một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp không hiệu quả như mong muốn đã được chuyên sang hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Sau khi nghị quyết 09 NQ/CP của Chính phủ được đưa ra về chuyền đổi kinh tế trong nông nghiệp và tiêu thụ sản phâm nông nghiệp thì quá trình chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản diễn ra càng nhanh chóng, mạnh mẽ và rộng khắp. Quá trình này diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002, hơn 200.000 ha diện tích được chuyên sang nuôi trồng thủy sản hoặc là kết hợp cùng với nuôi trồng thủy sản, đã đạt được hiệu quả kinh tế- xã hội rất đáng kể, từng bước từng bước góp phần vào công cuộc thay đôi nên kinh tê ở các vùng ven biên và nông thôn. * Tao công việc mới, tăng hiệu quả sử dụng dat dai Người nông dân Việt Nam sử dụng ao hồ nhỏ để nuôi trồng thủy sản như một cách tận dụng đất đai và lao động. Hoạt động này hầu như không tốn nhiều quá chi phí tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh.
Tuy nhiên, càng ngày càng có nhiều người nông dân đã tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ dé nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng dé đạt được năng suất cao hơn và chất lượng hơn. * Cung cấp nguồn sản phẩm thủy sản xuất khẩu quan trọng Trong nhiều năm liền, ngành thủy sản luôn giữ vị trí cao trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khâu lớn nhất cả nước. Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2018 xuất khâu của ngành thủy sản đạt 8,8 tỷ USD, đã tăng 5,8% so với năm 2017; xuất khâu hàng thủy sản ra nước ngoài trong 7 tháng đầu năm 2019 đã đạt gần 4,69 tỷ USD, có phần giảm nhẹ 0,8% so với 7 tháng đầu năm 2018. * Đảm bảo chủ quyền quốc gia, an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa và hải đảo Ngành thủy sản luôn đóng vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc phòng tại các vùng biển và hải đảo, góp phần đây mạnh kinh tế, thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
Tính đến nay, rất nhiều các cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển Đông hải đảo và sẽ được hoàn thiện đồng bộ trong thời gian tới như: Cô Tô (Quảng Ninh), Phú Quốc( Kiên Giang), Bach Long Vi, Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Khoai (Ca Mau), Côn Đảo (Bà Ria- Vũng Tau), Phú Qui(Binh Thuận), Lí Sơn( Quảng Nam).phục vụ sản xuất nghề cá và bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của fô quôc. Tóm lại, ngành thuỷ sản VN đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước.