Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng cân bằng nghiệp vụ kinh doanh tại ACB Times City. Chương 3: Giải pháp nâng cao sự cân bằng nghiệp vụ kinh doanh tại ACB Times City. Chu Minh Hai 8 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại. Tổng quan về Ngân hàng thương mại. Định nghĩa ngân hàng thương mại. Trong khuôn khổ của hệ thống luật pháp, việc chỉ ra định nghĩa về các loại hình, đặc điểm và định nghĩa để áp dụng các quy định của pháp luật là rất cần thiết.
Do vậy, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu rõ định nghĩa về ngân hàng thương mại và các tô chức tín dụng như sau: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tat cả các hoạt động ngân hàng. TỔ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tô chức tài chính vi mô và quỹ tin dụng nhân dân. ” “Ngân hàng là loại hình tổ chức tin dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
” “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ” Cu thé hơn, Luật cũng nêu ra: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, Cap tín dung và Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ”. Mặc dù đã có định nghĩa cụ thể nhưng đó mới chỉ là các hoạt động chính, không phải là tất cả các hoạt động mà ngân hàng thương mại được cấp phép. Điều này đã gây khó khăn cho sinh viên khi có sự tương đồng trong hoạt động của ngân hang với các tô chức tín dụng phi ngân hàng khác. Đặc biệt là ở các hoạt động bên ngoài 3 nghiệp vụ cơ bản bên trên.
Phân loại các ngân hàng thương mại. a) Dựa vào tính chất sở hữu. Tính chất sở hữu là yếu tố quyết định đến nhiều hoạt động và chính sách riêng của từng NHTM. Ngoài ra, nó còn là sự khác biệt về quy mô hoạt động riêng.
Cụ Chu Minh Hai 9 thé, có thé phân loại theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP như sau: - “Ngan hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương mại mà trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điêu lệ. Ngân hàng thương mai Nhà nước bao gom ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phan do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điêu lệ. ” - “Ngân hàng thương mại cổ phan là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty co phan.” - “Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn diéu lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ). ” - “Ngan hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp cua Bên Việt Nam ( gom một hoặc nhiễu ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gom mot hodc nhiéu ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đông liên doanh.
” b) Dựa vào chiến lược kinh doanh. Theo cách thức tiếp thị và bán hàng, có thể phân loại ngân hàng thành các hình thức sau: - “Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dich vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. A ” - “Ngân hàng bán lẻ là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vu cho đổi tượng là khách hàng ca nhân. ” - “Ngân hàng vừa bán buôn và bán lẻ là loại ngân hàng vừa giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.
” Ngoài ra, dựa vào chiên lược kinh doanh còn có một cách phân loại khác: - “Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng chỉ tập trung cung cấp một so sản phẩm, dich vụ ngân hàng đặc thù ví dụ như cho vay đối với xây dựng cơ bản, nông nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, .’ , - “Ngân hàng da năng là ngân hàng cung cấp mọi dich vụ ngân hàng cho mọi đối tượng thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. ” Chu Minh Hải 10 c) Dựa vào quan hệ tô chức. Dựa vào cách thức tô chức cơ câu nội bộ ngân hàng có thê chia như sau: - “Hội sở ngân hàng hay còn gọi là trụ sở ngân hàng là cơ quan đâu não của một ngân hàng. Cơ cấu tổ chức tại trụ sở chính do ngân hàng tự quyết định.
” Thông thường, mỗi ngân hàng thường chỉ có một hội sở duy nhất hoặc hai hội sở đặt tại các thành phố lớn. Hội sở ngân hàng là nơi tập trung tất cả những gì là quan trọng nhất bao gồm các khối ngành, các sếp lớn, đưa ra các quyết định có liên quan đến chi nhánh hoặc trụ sở ngân hàng. - “Ngân hàng được mở Sở giao dịch, Chỉ nhánh, Văn phòng dai diện, được thành lập đơn vị sự nghiệp, Công ty trực thuộc theo quy định cua Ngân hàng Nhà nước và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan. ” Chi nhánh ngân hàng được phân quyền dưới Hội sở.
Ngân hàng thường đặt chi nhánh của mình tại các tỉnh thành phố lớn. Mỗi ngân hang sẽ có nhiều chi nhánh khác nhau. Trong chi nhánh ngân hàng lại được phân ra thành chi nhánh ngân hàng cấp | và chi nhánh ngân hang cap 2. Tiêu chí dé phân chia các cấp chi nhánh ngân hàng đó là dựa vào mức lợi nhuận mà chi nhánh này mang lại.
Chi nhánh ngân hàng nào mang lại lợi nhuận cao sẽ là chi nhánh cấp 1 còn chi nhánh ngân hàng nào mang lại lợi nhuận thấp hon sẽ là chi nhánh ngân hàng cấp 2. Sở giao dịch có chức năng và quyền hạn thấp hon Chi nhánh và Trụ sở chính. Cơ cấu tô chức của sở giao dịch cũng nhỏ hơn và thường đặt tại các địa phương như các quận huyện là chủ yếu. Thông thường, một chi nhánh ngân hàng có thé có nhiều sở giao dịch khác nhau và có quan hệ mật thiết với nhau.
Tuy nhiên, sở giao dịch ngân hàng sẽ bị hạn chế về một số chức năng, một số ngân hàng không áp dụng hình thức Sở giao dịch. Tại một số địa phương, sở giao dịch ngân hàng chỉ để huy động vốn tiết kiệm hoặc cung cấp các khoản vay tín dụng. Phòng giao dịch ngân hàng thuộc quản lý của ngân hàng và cục thuế. Phòng giao dịch chỉ có nghiệp vụ cơ bản, không tiến hành thanh toán quốc tế.
Và các ngân hàng thương mại cô phần thường có quy định chung về phòng giao dịch gồm: Ban kế toán-ngân quỹ, Ban tổng hợp và Ban khách hàng. Ở một số ngân hàng, tên gọi của các Ban này có thể khác nhau nhưng chức năng vẫn giống nhau. Chu Minh Hải 11 1. Các hoạt động chủ yếu của PGD Ngân hàng thương mại.
Hoạt động huy động vốn. Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 cũng quy định “Ngân hàng được phép thực hiện hoạt động huy động vốn dưới các hình thức: e Nhận tién gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. e Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác dé huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước. e Vay von cua các tổ chức tin dụng khác hoạt động tai Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài.
e Vay vốn ngắn hạn của Ngân hang Nhà nước. © Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. ” Trong đó, Nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn chủ yếu của ngân hàng .Hoạt động cấp tín dụng. “Cap tín dung là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho pháp sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
” Cấp tín dụng cũng là hoạt động đem lại doanh thu và lợi nhuận chính cho một ngân hàng thương mại.Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ. “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện nghĩa vụ thanh toán séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng.Các hoạt động khác. Các hoạt động khác không bắt buộc các PGD đều phải có mà tuỳ thuộc cơ cầu tổ chức, quy mô của từng PGD, của từng ngân hàng. Ngoài ra, một số hoạt động như truyền thông thương hiệu, tổ chức, tham gia tài trợ các chương trình tình nguyện, trách nhiệm xã hội cũng được thực hiện ở các cấp tô chức khác nhau.
Thông thường, các ngân hàng sẽ kết hợp các chương trình triển khai kết hợp với nhau, làm tăng hiệu quả truyền thông, sự yêu mến của khách hàng. Chu Minh Hải 12 1. Phân loại các nghiệp vụ Ngân hàng thương mại. Dựa vào bảng cân đối kế toán.
“Bảng cân đổi kế toán là bảng báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản và nguồn von của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nào đó. "Ö quy mô PGD, các nghiệp vụ này có thê được triển khai như thế nào còn tuỳ thuộc vào các quy định nội bộ. Dựa vào cân đối kế toán, có thé chia nghiệp vụ ngân hàng thương mại thành nghiệp vụ nội bảng và nghiệp vụ ngoại bảng. Nghiệp vụ nội bảng.
Theo Hiệp hội Kế toán ACCA, trong hệ thống ngân hàng: “Nghiệp vụ nội bảng là các nghiệp vụ ngân hàng được phản ánh trên bảng cân đối kế toán. Các nghiệp vụ nội bảng có thể chia thành nghiệp vụ tài san No, nghiệp vụ tài sản Có hay còn gọi là nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ sử dụng vốn.