phần mở đầu, kết luận, Luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn Chƣơng 2. Các biện pháp phát triển khả năng tƣ duy sáng tạo cho học sinh lớp 5 thông qua hoạt động dạy học giải toán hình học Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.
Một số vấn đề cơ bản về tư duy 1. Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con ngƣời chƣa biết, chƣa nhận thức đƣợc. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con ngƣời phải hiểu thấu những cái chƣa biết đó, phải vạch ra đƣợc cái bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó gọi là tƣ duy.
Theo từ điển Tiếng Việt [26]: “Tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán, suy lí”. Theo từ điển triết học [31]: “Tƣ duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,…Tƣ duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con ngƣời và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”. Theo tâm lý học, tƣ duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não ngƣời. Tƣ duy phản ánh thế giới vật chất dƣới dạng các hình ảnh lý tƣởng: “Tƣ duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết”.
Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, đƣợc nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhƣng vƣợt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính. Dƣới góc độ giáo dục, có thể hiểu tƣ duy là hệ thống gồm nhiều ý tƣởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra 10 khi có sự kích thích.
Những kích thích này nhận đƣợc thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste). Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tƣợng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con ngƣời. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ.
Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phƣơng pháp luận, phƣơng pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con ngƣời. Đặc điểm của tư duy Đặc điểm của TD mà con ngƣời là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”. Tuy nhiên vấn đề đó phải đƣợc cá nhân nhận thức đầy đủ, đƣợc chuyển thành nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì còn cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong ngƣỡng hiểu biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân. Tiếp theo, TD luôn phản ánh cái bản chất nhất chung cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt.
Ngoài ra, TD luôn phản ánh gián tiếp hiện thực. Trong TD, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính. Cuối cùng, ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của TD và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho ngƣời khác và cho cả bản thân chủ thể TD. Tƣ duy có các đặc điểm cơ bản sau: Tính có vấn đề: Khi gặp những tình huống mà vấn đề hiểu biết cũ, phƣơng pháp hành động đã biết của chúng ta không đủ để giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấn đề” và chúng ta phải cố vƣợt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới, hay nói cách khác chúng ta phải TD.
Tƣ duy còn có Tính khái quát: TD có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tƣợng. Do đó TD mang tính khái quát. Ngoài ra, Tƣ duy còn có Tính độc lập tƣơng đối: Trong quá trình sống con ngƣời luôn giao tiếp với nhau, do đó TD của từng ngƣời vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân 11 vừa chịu sự tác động biến đổi từ TD của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất. Do đó, TD không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể ngƣời mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì đƣợc tính cá thể của một con ngƣời nhất định.
Mặc dù đƣợc tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhƣng TD có tính độc lập tƣơng đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của TD còn chịu ảnh hƣởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy đƣợc trƣớc đó. TD cũng chịu ảnh hƣởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, TD cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con ngƣời.
Đó chính là tính tƣơng đối độc lập của TD. Các thao tác tư duy Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau: a) Thao tác phân tích – tổng hợp Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra những thuộc tính, những đặc điểm của đối tƣợng để nhận thức một cách trọn vẹn về đối tƣợng ấy. Tổng hợp là quá trình dùng trí óc hợp nhất, sắp xếp những thành phần đƣợc tách ra qua phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo.
Khi nói ngƣời có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tƣơng tự nhƣ nói ngƣời có “đầu óc sáng tạo”. Có thể nói, phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng lẽ của TD mà là hai quá trình có liên hệ biện chứng chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, phân tích đƣợc tiến hành trên cơ sở tổng hợp và tổng hợp đƣợc thực hiện trên kết quả của phân tích nghĩa là thao tác phân tích giúp HS tìm cách giải quyết vấn đề còn thao tác tổng hợp giúp HS tìm cách trình bày vấn đề. 12 b) Thao tác so sánh - tƣơng tự So sánh- tƣơng tự là thao tác TD nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tƣợng của hiện thực. Nhờ so sánh, ngƣời ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật.
Thao tác so sánh cũng có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết của tƣ duy. Bởi vì, nhờ có so sánh các sự vật hiện tƣợng với nhau mà ta có thể lĩnh hội các tài liệu học tập với tất cả tính đa dạng độc đáo và phức tạp của chúng. Vì vậy nó có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của quá trình nhận thức ở trẻ em.
Nó cho phép trẻ không chỉ nhận biết mà còn phân biệt đƣợc đối tƣợng khác nhau trong thế giới xung quanh. c) Thao tác trừu tƣợng hóa - khái quát hóa Trừu tƣợng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ khỏi đối tƣợng những bộ phận, thuộc tính, quan hệ không cần thiết chỉ giữ lại những yếu tố đặc trƣng, bản chất của đối tƣợng nhận thức. Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, quan hệ chung, bản chất của sự vật hiện tƣợng. Kết quả của khái quát hóa là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tƣợng cùng loại.
Tóm lại, các TTTD cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động tƣ duy. Trong thực tế, các thao tác này đan xen vào nhau mà không theo một trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tƣ duy, điều kiện tƣ duy, không phải mọi hành động tƣ duy đều nhất thiết phải tuân theo các thao tác tƣ duy trên. Tư duy sáng tạo 1.
Khái niệm tư duy sáng tạo. Đã có nhiều giải thích về khái niệm TDST, chẳng hạn: Vugotxki L. [40, tr84] cho rằng: Hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con ngƣời tạo ra đƣợc cái gì mới, không kể rằng cái đƣợc tạo ra 13 ấy là một vật cụ thể hay là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con ngƣời. Nguyễn Đức Uy [37] cho rằng: “Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân và những tƣ liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời ngƣời ấy”.
Quan điểm này cho rằng không có sự phân biệt về sáng tạo, nghĩa là sáng tạo dù ít, dù nhiều đều là sáng tạo. Trong cuốn “Sổ tay Tâm lý học”, tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long [12] cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện nhƣ vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”. Nguyễn Huy Tú (1996) [34], trong “Đề cƣơng bài giảng Tâm lý học sáng tạo”, định nghĩa sáng tạo nhƣ sau: “Sáng tạo thể hiện khi con ngƣời đứng trƣớc hoàn cảnh có vấn đề.
Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con ngƣời trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tƣ duy độc lập tạo ra đƣợc ý tƣởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó ngƣời sáng tạo gạt bỏ đƣợc các giải pháp truyền thống để đƣa ra những giải pháp mới độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”.