CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Một số vẫn đề về tư duy và phát triển tư duy cho HS 1. Khái niệm về tư duy “Tu duy là gì” là một van dé thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học, các nhà khoa học nghiên cứu triết học, nghiên cứu tư duy đưới góc độ lý luận nhận thức. Qua nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi nhận thấy có nhiều quan điểm về tư duy: Theo V.
Lê Nin [33], tư duy là sự phản ánh thé giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, day đủ hơn, di sâu một cach vô han, từ gia tưởng tới ban chat, từ bản chất cấp một, nếu có thé như vậy, đến bản chất cấp hai,. đến vô hạn. Theo quan điểm nay, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, day đủ hơn, di sâu một cach vô han, tiễn gần đến chân ly khách quan hơn. Mác [35], tư duy là quá trình tiến tới cái mới, đề xuất những nhận thức mới, là quá trình không ngừng bổ sung và đổi mới.
Quy luật của tư duy thực chất là quy luật của sự phát triển và tìm tòi cái mới. Vấn dé này được X L. Rubinstêin [56] cho răng: trong quá trình tư duy, khách thể được tất cả nội dung mới, cứ mỗi lần lật đi, lật lại, nó lại được bộc lộ một khía cạnh mới, tất cả các tính chất mới của nó được làm rõ. Một số tác giả khác lại cho rằng, trong quá trình lập luận, tư duy đạt được những cứ liệu ngày càng mới, vượt ra ngoài phạm vi các điều kiện ban đầu và khi sử dụng các điều kiện này, fư duy đi đến những kết luận ngày càng mới, nhờ chủ động đưa các đối tượng ở vị trí ban đầu vào trong các mối liên hệ mới.
Mỗi lần như vậy, tư duy tựa như lật ra một khía cạnh mới, phát hiện và rút ra hết được các thuộc tính và quan hệ mới của chúng. Theo nghĩa từ điển, trong [41], Hoàng Phê viết: 7D /à giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng hình thức như biếu tượng, khái niệm, phán đoán và suy li. Theo quan niệm của Dang Phương Kiệt "71 duy là một quá trình tâm 13 trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm bién đổi thông tin có sẵn" [28]. Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng, các quá trình tư duy của con người được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và điều gì diễn ra khi đạt tới giai đoạn này của quá trình xử lý thông tin thì được gọi là tư duy.
Trong [51], tac giả Trần Thúc Trình có định nghĩa: “7 duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tinh quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chu thé chưa biết” Chúng tôi thống nhất với quan điểm của Trần Thúc Trình với quan niệm trong dé tài này là: Tir duy là một quá trình nhận thức, phan ánh những thuộc tính ban chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà chủ thé chưa biét. Đặc điểm, cấu trúc và biểu hiện của tw duy 1. Đặc điểm của tư duy Với tư cách là một mức độ của hoạt động nhận thức, tư duy có những đặc điểm sau (tham khảo [24]): Tính có van đề của tư duy: Tư duy nay sinh khi gặp hoàn cảnh có van dé. Đó là những tình huống mà ở đó nay sinh những mục dich mới và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ đã có trước đây trở nên không đủ (mặc dù là cần thiết) để đạt được mục đích đó.
Như vậy, muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có van dé phải được cá nhân nhận thức day đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân, nghĩa là cá nhân phải biết cái gì đã biết, cái gì chưa biết cần phải tìm và có nhu cau tìm kiếm. Tính gián tiếp của tư duy: Tư duy phản ánh sự vật hiện tượng một cách gián tiếp bằng ngôn ngữ tư duy, được biểu hiện trong các quy luật, quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các từ. Mặt khác, những phát minh, những kết quả tư duy của người khác, cũng như kinh nghiệm cá nhân của con người đều là những công cụ để con người tìm hiểu thế giới xung quanh để giải quyết những van đề mới đối với họ. Ngoài ra, những công cụ do 14 con người tạo ra cũng giúp chúng ta hiểu biết được những hiện tượng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng một cách trực tiếp được.
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ. Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng, những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù. Nói cách khác, tư duy mang tính trừu tượng và khái quát. Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lay ngôn ngữ làm phương tiện.
Tư duy của con người không thé tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy. Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được. Tính chất lí tính của tư duy: Chỉ có tư duy mới giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng. Nhưng nói như vậy không phải tư duy phản ánh hoàn toàn đúng đắn bản chất sự vật hiện tượng.
Tư duy có phản ánh đúng hay không còn phụ thuộc vào chiến thuật và phương pháp tư duy nữa. Các thao tác tư duy Quá trình tư duy diễn ra bằng cách các chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ (thao tác là hoạt động theo trình tự và yêu câu kĩ thuật nhất định) nhằm giải quyết van dé (hoặc lĩnh hội, tiếp thu tri thức). Có nhiều thao tác tư duy cụ thể tham gia vào một quá trình tư duy với tư cách là một hành động trí tuệ. Theo Nguyễn Quang Uan [54], TD được xác định bởi các thao tác phan tích, tong hop, so sánh, xét tương tu, trừu tượng hóa, khải quát hóa, đặc biệt hóa.
Trong đó: Thao tác phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phan khác nhau, từ đó vạch ra được 15 những thuộc tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu làm cho tổng thể được hiển minh. Thao tác tổng hop: là quá trình dùng trí óc dé hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tượng nhận thức đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể, từ đó nhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn điện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác được xem là mang dấu ấn sáng tạo, khi nói người có "dau óc tổng hợp" thì cũng tương tự như nói người có "đầu óc sáng tạo". Thao tác so sánh - tương tự: là thao tác TD nhằm "xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng của hiện thực”.
Nhờ so sánh người ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra còn tim thay những dau hiệu bản chất và không ban chat thứ yếu của chúng. Thao tác trừu tượng hóa — khái quát hóa: Trừu tượng hoá: là dùng trí óc dé gạt bỏ những yêu tố, những thuộc tính, những liên hệ thứ yếu, không can thiết của sự vật, hiện tượng và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho TD. Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc, để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Kết quả của khái quát hóa là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật và quy tắc. Tóm lại: Trong quá trình TD, các thao tác TD có mối quan hệ mật thiết đan chéo vào nhau, xen kẽ và bổ sung cho nhau chứ không theo trình tự máy móc riêng rẽ. Tùy theo từng nhiệm vu TD, diéu kiện TD, không phải mọi hành động TD nào cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên; Khi có TD tốt thì người học sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tao 16 trong việc chiếm lĩnh kiến thức mới ở quá trình học tập và rèn luyện của ban thân. Từ đó, nâng cao chất lượng dạy và học.
Biéu hiện của tư duy Người TD tốt là người có khả năng: Sir dụng tốt các kĩ năng TD như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và hệ thống hóa dé chuyển các tri thức sang một tình huống mới. Khi HS độc lập chuyên tai tri thức vào tình huống mới chứng tỏ ở họ đã có biểu hiện phát triển TDLG. Tái hiện kiến thức, thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất và giải quyết hiệu quả những tình huống cụ thé. Phát hiện cái chung của các hiện tượng khác nhau, sự khác nhau giữa các hiện tượng tương tự.
Áp dụng kiến thức vao thực tiễn một cách nhanh chóng, nhuan nhuyễn. Luôn suy nghĩ về cách TD, cách giải quyết van dé, từ đó rút ra những nhận xét về quy trình TD. Yêu cầu và định hướng phát triển tw duy cho HS trong dạy học Bản chất của quá trình nhận thức phải dựa trên hoạt động tư duy của bản thân người học. Năng lực tư duy của HS ảnh hướng đến toàn bộ quá trình học tập và kết quả của việc học.
Trong DH, để năm được và vận dụng tri thức HS cần tiễn hành các thao tác tư duy. Như vậy, tri thức vừa là “nguyên liệu”, vừa là kết quả của quá trình tư duy nhận thức. Đặc biệt là, khi HS muốn vận dụng được tri thức để giải quyết những vấn dé của môn học và cuộc sống đều cần đến các hoạt động tư duy trí tuệ.