Chương 1: Khái quát về Trung Hòa Chương 2: Chuyển biến kinh tế – xã hội tại xã Trung Hòa từ năm 1947 đến năm 1997 Chương 3: Chuyển biến kinh tế tại phường Trung Hòa từ năm 1997 đến năm 2014 Chương 4: Chuyển biến xã hội tại phường Trung Hòa từ năm 1997 đến năm 2014 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG HÒA 1. Điề u kiêṇ tƣ ̣ nhiên và bố i cảnh lich ̣ sƣ̉- văn hóa Phường Trung Hòa thuộc quâ ̣n Cầ u Giấ y , thành phố Hà Nội. Vị trí địa lý của phường nằ m bên bờ nam sông Tô Lich ̣ ; phía Bắc giáp phường Yên Hòa , phía Tây giáp Mễ Trì (quâ ̣n Nam Từ Liêm), phía Nam giáp phường Nhân Chính (quâ ̣n Thanh Xuân). Quâ ̣n Cầ u Giấ y đươ ̣c thành lâ ̣p theo Nghi ̣đinh ̣ 74/CP của Chính phủ năm 1996.
Ngày 1-9-1997, quâ ̣n đươ ̣c chin ́ h thức hoa ̣t đô ̣ng và vâ ̣n hành bô ̣ máy quản l ý Nhà nước. Quâ ̣n Cầ u Giấ y đươ ̣c thành lâ ̣p dựa trên cơ sở sáp nhâ ̣p của 4 thị trấn và 3 xã của huyện Từ Liêm. Đó là các thi ̣trấ n Nghiã Đô , Nghĩa Tân, Mai Dich, ̣ Cầ u Giấ y1 và các xã Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa. Nay tấ t cả đều gọi là phường.
Địa bàn thuộc quận Cầu Giấy ngày nay vốn là một vùng đất cổ , từ xa xưa là mô ̣t phầ n của huyê ̣n Từ Liêm , phủ Quốc Oai , trấ n Sơn Tây. Thời Nguyễn , từ năm 1831, huyện Từ Liêm thuô ̣c p hủ Hoài Đức , tỉnh Hà Nội ; đến thời Pháp thuô ̣c , từ năm 1903, thuô ̣c phủ Hoài Đức (đã thu nhỏ ), tỉnh Hà Đông. Sau ngày giải phóng thủ đô năm 1954, thuô ̣c quâ ̣n VI ngoa ̣i thành. Đế n năm 1961, Hà Nội mở rộng địa giới hành chiń h , xóa bỏ các quận , lâ ̣p ra 4 khu phố nô ̣i thành và 4 huyê ̣n ngoa ̣i thành, từ đó huyện Từ Liêm đươ ̣c lâ ̣p la ̣i, gồ m đấ t của 2 quâ ̣n V và VI.
Là một khu v ực làng xã lâu đ ời thuô ̣c mảnh đấ t nghìn năm văn hiế n Thăng Long – Hà Nội, Trung Hòa thừa hưởng những đă ̣c điể m lich ̣ sử – văn hóa hế t sức đô ̣c đáo và phong phú. Vùng Trung Hòa nằ m bên bờ Tây Nam dòng sông Tô Lich ̣ , mô ̣t trong những con sông chin ́ h ta ̣o nên mô hin ̀ h “tứ giác nước” mà giáo sư Trầ n Quố c Vươ ̣ng đã ta ̣o lâ ̣p để mô tả bản chấ t đi ̣ a văn hóa của Hà Nô ̣i như mô ̣t “thành phố sông hồ ” [96, tr.78-79]: Nhị Hà quanh Bắc sang Đông Kim Ngưu, Tô Li ̣ch là sông bên này 1 Do trùng tên với quâ ̣n nên sau này thi ̣trấ n Cầ u Giấ y đươ ̣c đổ i tên thành phường Quan Hoa. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng từ những cơ sở lý thuyết khoa học đó , ông cho rằ ng , nế u nhìn rô ̣ng hơn, trên qui mô Hà Nô ̣i ngày hôm nay, thì mảnh đất kinh đô ngàn năm này là một hê ̣ thống làng ven sông, ven hồ , với các làng ruô ̣ng, làng vườn, làng nghề, làng chài, làng buôn v.v…và làng nào cũng dính dáng đế n nghề trồ ng lúa nước , hoa màu , cây ăn quả , cây hoa cảnh. Quả thực đúng như vậy , lịch sử đã chứng minh rằng , Thăng Long – Hà Nội không chỉ là một kinh đô “muôn đời” của nước Việt Nam , mà trước hế t nó còn là cái nôi phát sinh và phát triể n của vô vàn các da ̣ng thức l àng xã, đă ̣c biê ̣t trong đó là các làng nghề nông nghiê ̣p và thủ công nghiê ̣p.
Đất Từ Liêm thế kỷ XI -–X có cư dân hô ̣i tu ̣ đông đảo , hoạt động của con người cũng rấ t phong phú đa da ̣ng. Các làng ven đô Thăng Long khi đó đã có nhiề u nghề , nhiề u đă ̣c sản có giá tri ̣ , đặc biệt là khu vực xung quanh hồ Tây và ven sông Tô Lịch. Khởi đầ u từ thời Lý , các vua ở Thăng Long hằng năm được nhân dân đem dâng các thứ của ngon vâ ̣t la ̣. Làng Mễ Trì dâng gạo ngon , làng Võng Thi ̣dâng cá béo, làng Hoàng Mai dâng rươ ̣u, làng Vòng dâng cốm .Vào thế kỷ XVI, ngoài việc trồ ng lúa, vùng ven sông Tô Lịch đã là nơi trồng và cung cấp nhiều hoa màu và cây ăn quả, ví dụ như vùng Láng hồi đó đã nổ i tiế n g là nơi trồ ng hành tỏi và các thứ rau [44, tr.
Trong các thế kỷ XV II - XVIII, nông sản phẩ m ở kinh thành Thăng Long, ngoài thóc lúa và các cây lương thực , còn có nhiề u thứ đặc sảnkhác: Thịnh Quang trồng long nhã n, Nghi Tàm và Quảng Bá chuyên trồ ng hoa. Theo thời gian, các làng nghề thủ công ngày càng phát triể n, có những nơi trở thành phường chuyên nghiê ̣p. Sách Dư đi ̣a chí của Nguyễn Trãi có nhắc tới mộ t số làng nghề nổi tiếng khi ấy như : Yên Thái (tức làng Bưởi) chuyên làm giấ y , Thụy Chương chuyên dệt vải nhỏ, Nghi Tàm ngoài trồ ng hoa cũng dê ̣t vải , dê ̣t lu ̣a , phường Hàng Đào nhuô ̣m điề u tơ lu ̣a. Về sau còn thấ y nói đế n nhiề u phường khác như phường Yên Phu ̣ in tranh, Ngũ Xã chuyên đúc đồ ng, Trích Sài chuyên dệt the, dê ̣t liñ h [44, tr.
Giáo sĩ Richard ở thế kỷ XVIII trầm trồ trước cảnh buôn bán sầm uất trên bế n sông Hồ ng và ở các chơ ̣ sông Tô Lich ̣ ở kinh thành Thăng Long đã phải thố t lên “số lượng thuyề n bè lớn lắ m , đến nỗi rất khó mà lội đư ợc xuố ng bờ sông : những sông, những bế n buôn bán sầ m uấ t nhấ t của chúng ta (Âu Châu ), ngay thành phố 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Venise nữa với tấ t cả những thuyề n lớn thuyề n nhỏ của nó cũng không thể đem đế n cho người ta một ý niê ̣m về sự hoạt động buôn bán và dân số trên sông Kẻ Chợ ”1. Qua đó , chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trong của giao thông đường thủy , mà ở đây là các dòng sông cha ̣y quanh thành phố trong các hoạt động buôn bán và trao đổ i văn hóa giữa nô ̣i thành (Kẻ Chợ ) và các vùng ngoại thành xung quanh. Tấ t nhiên, viê ̣c di chuyể n bằ ng đường bô ̣ cũng rấ t tiê ̣n lơ ̣i. Ngoài cầu Đông và cầu Cống Chéo Hàng Lược, vào thế kỷ XVIII , trên sông Tô Lich ̣ đã có thêm 7 chiế c cầ u đươ ̣c xây dựng 2, giúp cho việc giao thương buôn bán thuận tiện hơn bội phần.
Nhờ đó , những sản vâ ̣t trời phú của người nông dân vùng ven kinh thành dễ dàng đế n với thi ̣ dân nô ̣i thành , dầ n dà ta ̣o nên những danh tiế ng cho những thứ đă ̣c sản ấ y , và còn đươ ̣c ca dao cổ lưu truyề n trong dân gian đế n tâ ̣n nay : Cố m Vòng, gạo tám Mễ Trì Tương Bầ n, húng Láng còn gì ngon hơn Hay: Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầ m Cá rô Đầm Sét, sâm Cầ m hồ Tây Hay: Vạn Long dệt cửi kéo hoa An Phú nấ u ke ̣o mạch nha ngọt đường Trung Kínhthì lễ vàng hương Nghĩa Đô làm giấy để làng tả văn The La, lĩnh Bưởi, chồ i Phùng Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên Sự phồ n thinh ̣ của đô thi ̣Thăng Long – Kẻ Chợ trong những thế kỷ trung đại cũng là tiền đề giúp cho các nghề nông nghiệp , thủ công nghiệp quý giá được bảo tồ n và phát huy , đồ ng thời góp phầ n ta ̣o nên những vùng văn hóa hế t sứ c đă ̣c trưng trong bức tranh văn hóa Viê ̣t Nam. Nằ m trong pha ̣m vi của cái nôi văn hóa , văn minh ấ y, Trung Hòa thừa hưởng những điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i về lich ̣ sử và tự nhiên để tồ n ta ̣i và phát triể n qua nhiề u biế n chuyể n của đấ t nước. 1 Dẫn theo: [44, tr. 2 Cầ u Cót, cầ u Trung Kính, cầ u Mo ̣c, cầ u Giát, cầ u Lủ và cầ u Minh Kính.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lƣơ ̣c sƣ̉ hin ̀ h thành làng xã Phường Trung Hòa được nâng cấp từ xã Trung Hòa (huyện Từ Liêm), gồm 3 làng/thôn (Trung Kính Thượng, Trung Kính Hạ và Hòa Mục), trong đó 2 làng Trung Kính Thượng và Trung Kính Hạ vốn trước đây thuộc về xã Trung Kính, sau được tách ra thành hai. Còn làng Hòa Mục trước đây thuộc xã Nhân Mục Môn (hay còn gọi là Kẻ Mọc), nằm sát làng Trung Kính Thượng. Do địa bàn phường Trung Hòa chủ yếu bao gồm đất đai của xã Trung Kính trước đây, nên trong phần này chúng tôi đi sâu trình bày lược sử hình thành của xã Trung Kính.
Tọa lạc ở một vùng đất đai trù phú phía Tây của thủ đô Hà Nội , trải qua nhiề u biế n thiên của lich ̣ sử , không rõ từ khi nào xã Trung Kin ́ h đã tách thành 2 thôn/làng là: Trung Kiń h Thươ ̣ng và Trung Kính Hạ. Ranh giới giữa 2 làng chính là con đường Trầ n Duy Hưng bây giờ , chạy thẳng từ cầu Trung Hòa (trước đây là cầ u Trung Kiń h) đến ngã tư Khuất Duy Tiến - Phạm Hùng - Đa ̣i lô ̣ Thăng Long. Hiê ̣n ta ̣i không có nhiề u t ư liê ̣u nói đế n lich ̣ sử của xã Trung Kính. Mô ̣t tài liê ̣u đáng chú ý là Thầ n tích phả ký 1(Phả ghi chép thần tích ), ghi chép sự tić h về thành hoàng của làng, hiê ̣n đang lưu giữ ta ̣i đin ̀ h của làng (cả 2 đin ̀ h của thôn Trung Kính Thượng và thôn Trung Kính Hạ ).