Chương 1: Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội vùng ven biển Nam Định trước năm 1986 Chương 2: Chuyển biến cơ cấu kinh tế vùng ven biển Nam Định trong những năm 1986 - 1998 Chương 3: Chuyển biến cơ cấu kinh tế vùng ven biển tỉnh Nam Định trong những năm 1998 - 2006 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG VEN BIỂN NAM ĐỊNH TRƢỚC NĂM 1986 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Việt Nam là quốc gia có chiều dài đường bờ biển đứng thứ 27 trong tổng số 156 quốc gia có biển trên thế giới. Vùng ven biển Việt Nam là vùng kinh tế - sinh thái - nhân văn rộng lớn và đặc thù, với quy mô không gian trải dài suốt 13 độ vĩ Bắc, thuộc phạm vi lãnh thổ hành chính của 28 tỉnh, thành phố và có các cửa ngõ giao lưu với khu vực và thế giới.
Tỉnh Nam Định với chiều dài 72 km đường bờ biển có 3 huyện ven biển gồm: Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Giao Thủy. Các huyện này cách thành phố Nam Định 45km về hướng Đông Nam và cách Hà Nội 110 km. Theo Quyết định số 925/1998/QĐ-UB của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nam Định ngày 6/7/1998 về phát triển kinh tế biển thì vùng ven biển của tỉnh gồm toàn bộ diện tích tự nhiên cùng phạm vi biển ven bờ và biển ngoài khơi của 3 huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Vùng biển Nam Định ở vào vị trí trung tâm bờ Tây vịnh Bắc Bộ, có chiều dài 72 km, gồm 4 cửa sông là: cửa Ba Lạt, cửa Lạch Giang, cửa Sò, cửa Đáy.
Vùng ven biển có 82 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 22 xã và một thị trấn tiếp giáp biển gồm: Huyện Giao Thuỷ: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã Giao Thiện xã Giao Long xã Giao Xuân xã Giao Lâm xã Giao An xã Giao Phong xã Giao Lạc xã Bạch Long xã Giao Hải Huyện Hải Hậu: xã Hải Phúc xã Hải Xuân xã Hải Lộc xã Hải Triều xã Hải Đông xã Hải Hoà xã Hải Lý xã Hải Thịnh xã Hải Chính thị trấn Thịnh Long Huyện Nghĩa Hưng: xã Nghĩa Thắng xã Nghĩa Phúc xã Đông Nam Điền xã Tây Nam Điền Trong nền kinh tế tiểu nông truyền thống, vị trí địa lý vùng ven biển có ảnh hưởng không nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vị trí địa lý vùng ven biển có một tầm quan trọng đặc biệt. Đối với tỉnh Nam Định, vùng ven biển nằm ở đáy tam giác châu thổ sông Hồng, có một vị trí không mấy thuận lợi cho sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường. Vùng ven biển Nam Định nằm xa những trung tâm công nghiệp thương mại lớn. Phía ngoài là biển và phía trong là nội đồng với nền nông nghiệp độc canh lúa.
Vì vậy, nếu xem xét vùng ven biển Nam Định như là một vùng ven biển của đồng bằng sông Hồng, chỉ trồng lúa tự cấp tự túc như trước đây thì khó có thể hình dung nổi lợi thế của nó. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa, ven biển lại là vùng có vị trí địa lý thuận lợi vượt trội trong việc thông thương. Vùng ven biển của tỉnh Nam Định gần thị trường Trung Quốc và khu công nghiệp Hải 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phòng, Quảng Ninh. Điều đó tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn hẳn so với toàn tỉnh trong phát triển kinh tế.
Vùng ven biển Nam Định được coi là heo hút đối với vùng nông nghiệp nội địa nhưng lại có ưu thế lớn về vị trí địa lý trong giao lưu kinh tế đường biển ven bờ với các trung tâm kinh tế hàng hoá. Nhờ vị trí thuận lợi, vùng ven biển Nam Định có thể tiếp cận nhanh với thị trường. Vì vậy, đường biển là một lợi thế lớn trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất nước. Tài nguyên thiên nhiên * Khí hậu: Vùng ven biển Nam Định nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, vừa mang đặc điểm của khu vực vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu biển.
Trong năm hình thành 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh (từ hạ tuần tháng 10 đến thượng tuần tháng 4 năm sau). Các tháng này nhiệt độ thấp, trung bình dưới 20oc, có tháng xuống dưới 15oc, không thích hợp với nuôi trồng thuỷ sản các loại nhiệt đới. Nhiệt độ vùng biển thấp nhất là tháng 1 và tháng 2. Đây là vụ cá Bắc vì thời gian này đàn cá có xu hướng di chuyển xa bờ kiếm ăn và trú đông, làn cá di chuyển với mật độ dày, rất thuận lợi cho việc đánh bắt.
Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa hè, có gió Tây Nam, tạo nên khí hậu nóng ẩm. Thời gian này lượng mưa nhiều khoảng 1.850mm, nhiệt độ trung bình ven biển khoảng từ 21 - 300c, rất thích hợp nuôi trồng thuỷ sản như tôm he, tôm rảo, tôm sú.Vùng biển có nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 (trung bình 290c với tổng số giờ nắng cao nhất trong năm trung bình 210 - 230 giờ). Đây là khoảng thời gian cho vụ cá Nam. Các đàn cá nổi di cư sinh sản vào gần bờ như cá trích, cá cơm, cá chỉ vàng.
Bên cạnh đó, mùa này vùng ven biển còn có thể tổ chức du lịch nghỉ mát và làm muối. Đây là những lợi thế nổi bật đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng. * Đất đai 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do lịch sử kiến tạo địa hình đất đai, vùng ven biển Nam Định chia thành 2 vùng đất rõ rệt. Phía Bắc tỉnh là vùng đất thấp.
Phía Nam tỉnh là vùng đất tương đối trẻ bằng phẳng và màu mỡ do được phù sa của các con sông bồi đắp. Sự phì nhiêu này là kết quả của bao thế hệ người dân Nam Định khai hoang lấn biển, đắp đê, thau chua rửa mặn, cải tạo đồng ruộng. Vùng ven biển có tổng diện tích đất tự nhiên 722,29 km2, trong đó đất nông nghiệp có 61.228 ha trồng cây lương thực (có 59.938 ha là trồng lúa), trồng cói 202 ha, diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản 7.19] Vùng ven biển Nam Định được thiên nhiên ưu đãi, có tiềm năng đất đai lớn. Nằm gọn giữa hai cửa lớn nhất của hệ thống sông Hồng (sông Hồng và sông Đáy), phù sa hệ thống sông Hồng lắng đọng cho biển Nam Định là chủ yếu, tuy có chia một phần cho nam Thái Bình và Ninh Bình.
Hơn thế nữa, ngay cả phù sa của hệ thống sông Thái Bình cũng một phần theo dòng hải lưu trôi vào biển Nam Định rồi mới lắng đọng. Khu vực Giao Thuỷ hằng năm được bồi khoảng 90 ha và khu vực Nghĩa Hưng khoảng 32 ha. Như vậy, toàn tỉnh Nam Định được tăng khoảng 120 ha/năm [120, tr. Đất phù sa phân bố chủ yếu ở các xã Giao Lâm, Giao Thiện, Giao Hương của huyện Giao Thuỷ; xã Hải Phúc, Hải Lộc, Hải Châu của huyện Hải Hậu; xã Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Đông Nam Điền và Tây Nam Điền của huyện Nghĩa Hưng.
Vùng ven biển Nam Định có tiềm năng đất đai lớn để phát triển kinh tế mà trước hết là kinh tế nông nghiệp. * Nguồn lợi thuỷ sản: Bờ biển Nam Định dài 72 km, có 4 cửa sông là: cửa Ba Lạt (tức cửa sông Hồng), cửa Sò (là một nhánh chảy ra từ cửa sông Hồng), cửa Lạch Giang (cửa sông Ninh Cơ) và cửa Đáy (cửa sông Đáy). Với lượng hải sản lớn và phong phú về chủng loại nên vùng ven biển Nam Định có lợi thế phát triển kinh tế biển. Lợi thế và tiềm năng thủy sản của vùng biển Nam Định ở cả 3 vùng nước: 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Vùng nội đồng: diện tích nuôi trồng thủy sản luôn luôn biến động nhưng hầu hết được đưa vào canh tác dưới mọi hình thức, sản lượng hàng năm đạt 6000 - 7000 tấn.
- Vùng mặn lợ: Đây là vùng chủ động tạo ra nguyên liệu xuất khẩu nên được xác định là vùng chiến lược lâu dài, có thể khai thác theo hướng thâm canh và mở rộng diện tích. Cửa biển Nam Định là nơi có tốc độ bồi đắp phù sa rất lớn, mỗi năm có thể tăng thêm 400 - 500ha. Sản lượng khai thác thủy sản của vùng này đạt 9000 - 10000 tấn - Vùng biển: có khả năng khai thác 16.000 tấn sản phẩm mỗi năm. Tại các cửa sông thuộc vùng biển Nam Định hình thành các bãi cá nổi, bãi tôm lớn của vịnh Bắc Bộ: + Bãi cá ngoài khơi cửa Ba Lạt đến Hải Phòng + Bãi cá từ cửa Ba Lạt đến Hòn Mê - Thanh Hoá + Bãi tôm từ cửa Ba Lạt đến đến đảo Cát Bà + Bãi tôm từ cửa Ba Lạt đến ngang lạch Ghép - Thanh Hoá Nam Định có ngư trường đánh bắt rộng lớn từ Quảng Ninh đến vùng biển Nghệ Tĩnh có trữ lượng lớn, ước tính 644 tấn cá, 3.
Trữ lượng cá biển Nam Định khoảng 157.500 tấn chiếm khoảng 20% trữ lượng cá trong vịnh Bắc Bộ, trong đó: Cá tầng nổi khoảng 95.150 tấn, chiếm 24,4% cá nổi trong vịnh Bắc Bộ Cá tầng đáy khoảng 62350 tấn, chiếm 15,6% cá đáy trong vịnh Bắc Bộ. Trữ lượng đó cho phép khả năng khai thác sản lượng hàng năm khoảng 70. Trong đó: Cá nổi: 38100 tấn (18.500 tấn ở độ sâu 30m nước trở vào, 19600 tấn ở độ sâu 30m nước trở ra) Cá đáy: 31.200 tấn ở độ sâu 30m nước trở vào, 10.700 tấn ở độ sâu 30m nước trở ra [79, tr. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn lợi hải sản vùng biển Nam Định còn có nguồn tôm, nhuyễn thể, giáp xác.
ở các bãi bồi, cồn ngầm tôm tập trung với mật độ khá dày. Theo điều tra ban đầu, đến nay đã phát hiện được 45 loài thuộc họ tôm he, trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế cao là tôm he mùa, tôm bộ, tôm sắt, tôm vàng, tôm rảo. cư trú ở độ sâu từ 5 đến 30m. Trữ lượng vào khoảng 3000 tấn, khả năng cho phép hàng năm khoảng 1000 tấn.
Theo kết quả điều tra cho đến nay đã phát hiện ở vùng biển Nam Định 20 loài mực, trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng mực khoảng 2000 tấn, hàng năm có thể khai thác tới 970 tấn (trong đó 660 tấn ở độ sâu 30m nước trở vào và 310 tấn ở độ sâu 30m nước trở ra). Trong các loài mực đã có trong danh sách khảo sát, đáng kể nhất là loài mực ống, tiếp đến là mực nang và mực cơm, sản lượng có thể khai thác 500 đến 700 tấn/năm [79, tr. Các loại nhuyễn thể có vỏ cứng (sò, ngao, vạng.