CHƯƠNG 1: CƠ SỞ H Ế CH NG Ề CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA GIÁ CHỨNG QUYỀN CÓ BẢO ĐẢM VỚI GIÁ CHỨNG KHOÁN CƠ SỞ 1. Tổng quan về chứng quyền có bảo đảm 1. Khái niệm chứng quyền có bảo đảm Trên các TTCK quốc tế, chứng quyền có bảo đảm tên tiếng Anh là Coverred Warrant viết tắt là CW, được giao dịch trên nhiều Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) với nhiều các tên gọi khác nhau: tại Đức và Anh được gọi là Covered Warrant, tại Thái Lan và Hồng Kông là Derivatives Warrant, tại Singapore và Malaysia là Structured Warrant, tại Hàn Quốc là Equity-Linked Warrant. Mặc dù tên gọi không giống nhau nhưng về bản chất của tất cả các loại chứng quyền đó đều mang những đặc điểm và ý nghĩa giống nhau, cụ thể: CW là một sản phẩm chứng khoán, do CTCK hoặc tổ chức tài chính đủ điều kiện (tùy thuộc vào quy định mỗi quốc gia) phát hành, được niêm yết giao dịch trên SGDCK và cho phép người sở hữu có quyền nhưng không có nghĩa vụ được mua hoặc bán chứng khoán cơ sở với tổ chức phát hành CW tại một thời điểm trong tương lai đã được xác định trước, để nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.
Tại Việt Nam, một định nghĩa chi tiết, đầy đủ về CW trên TTCK dựa theo nghị định 60/2015/NĐ – CP đã sửa đổi, bổ sung từ nghị định 58/2015/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành như sau: “ chứng quyền có bảo đảm là chứng khoán có tài sản bảo đảm do công ty chứng khoán phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở (bao gồm cổ phiếu, chỉ số hoặc chứng chỉ quỹ ETF) cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện”. Đặc điểm của chứng quyền có bảo đảm 8 CW có phương thức hoạt động giống như với CKCS, nhưng đối với NĐT thì CW mang những đặc điểm vượt trội và được coi là hấp dẫn hơn so với CKCS. Cụ thể: Thứ nhất, đó là tính đòn bẩy. Như chúng ta thấy, trong khoảng thời gian giao dịch thì giá trị nội tại của chứng quyền sẽ thay đổi (tăng, giảm) gần như tương ứng với mức độ biến động giá của CKCS.
Song do giá của một chứng quyền thường nhỏ hơn nhiều lần so với giá của CKCS, nên tỷ lệ thay đổi giá của chứng quyền, tính theo mức độ chênh lệch giá CW /giá CW ban đầu, sẽ lớn hơn tỷ lệ thay đổi giá của CKCS. Chính vì vậy mà chứng quyền có thể làm gia tăng tỷ suất sinh lợi cho NĐT khi giá CKCS biến động đúng với dự báo của NĐT, kéo theo sự biến động giá của CW. Thứ hai là chứng quyền có một đặc tính khác biệt so với CKCS ở điểm là CW giúp cố định được khoản lỗ tối đa. Trong trường hợp khi NĐT không thể nhận định chính xác về sự thay đổi giá của CKCS thì NĐT có thể đầu tư vào CW như một phương án thay thế tối ưu.
Vào thời điểm đáo hạn, nếu giá CKCS biến động ngược chiều với dự đoán của NĐT thì khoản lỗ tối đa của NĐT khi đó chỉ là khoản phí (giá) của CW mà nhà đầu tư phải trả để sở hữu CW, thường thấp hơn rất nhiều so với giá trị đầu tư vào chứng khoán cơ sở. Như vậy, NĐT đã biết trước và cố định được khoản lỗ của mình trước khi đầu tư, đây được coi là một lợi thế của CW, tạo được tâm lý tốt hơn cho NĐT khi tham gia đầu tư trên thị trường. Đặc điểm tiếp theo của CW là vốn đầ tư thấp. Giá giao dịch của mỗi chứng quyền thông thường là khá thấp so với giá của một CKCS, chính vì vậy mà nó có tính đòn bẩy cao như đã nêu trên.
Vì vậy, khi tham gia, nhà đầu tư chỉ bỏ ra số tiền khá nhỏ, so với việc đầu tư trực tiếp vào chứng khoán cơ sở. Khác với giao dịch phái sinh, chứng quyền có một đặc điểm nữa là không phải ký quỹ khi tham gia giao dịch. Cụ thể không giống như quyền chọn hay hợp đồng tương lai trong đầu tư chứng khoán phái sinh, khi tham gia giao dịch CW nhà đầu tư không phải ký quỹ bất kỳ khoản tiền nào dù là chứng quyền mua hay bán. Đặc điểm cuối cùng giống như CKCS là chứng quyền được giao dịch và thanh toán dễ dàng.
NĐT hoàn toàn giao dịch được CW trên cùng một tài khoản 9 với tài khoản giao dịch chứng khoán cơ sở mà không cần phải mở một tài khoản mới khác như khi giao dịch chứng khoán phái sinh vì CW được niêm yết và giao dịch như cổ phiếu thông thường và trên cùng sàn giao dịch với cổ phiếu cơ sở của CW. Các thông tin cơ bản của một chứng quyền có bảo đảm Bảng 1.1: Các thông tin cơ bản của một CW Thông Ý nghĩa tin Chứng khoán CKCS của chứng quyền có thể là cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng cơ sở khoán hoặc chứng chỉ quỹ ETF. Trong giai đoạn đầu triển khai CW tại Việt Nam, chỉ có cổ phiếu được chọn làm CKCS. Giá chứng Là khoản chi phí mà nhà đầu tư phải bỏ ra nếu muốn sở hữu CW.
quyền Giá thực hiện Là mức giá để nhà đầu tư thực hiện quyền mua hoặc bán chứng khoán cơ sở khi CW đáo hạn. Tỷ lệ chuyển Cho biết số CW mà nhà đầu tư cần phải có để đổi lấy một CKCS. đổi Ví dụ: tỷ lệ chuyển đổi là 10:1, nghĩa là cần sở hữu 10 CW để mua một CKCS. Thời hạn Là thời gian lưu hành của CW, tối thiểu là 3 tháng và tối đa là 24 chứng quyền tháng.
Ngày giao dịch Là ngày giao dịch trước hai (02) ngày so với ngày đáo hạn của cuối cùng CW và là ngày cuối cùng mà chứng quyền còn được giao dịch. Trường hợp chứng quyền bị hủy niêm yết do CKCS bị hủy niêm yết, ngày giao dịch cuối cùng của chứng quyền trùng với ngày giao dịch cuối cùng của CKCS. Ngày đáo hạn Là ngày cuối cùng mà người sở hữu chứng quyền được thực hiện chứng quyền. 10 Kiểu thực hiện Gồm 2 kiểu thực hiện quyền: kiểu Châu Âu và kiểu Châu Mỹ.
quyền Trong giai đoạn đầu triển khai CW tại Việt Nam, CW chỉ được thực hiện quyền theo kiểu Châu Âu. Theo đó, người sở hữu CW chỉ được thực hiện quyền tại ngày đáo hạn. Phương thức Thanh toán bằng tiền mặt. Theo đó, người sở hữu CW sẽ nhận thanh toán khi được khoảng tiền chênh lệch khi giá thanh toán của chứng khoán thực hiện cơ sở cao hơn giá thực hiện.
quyền Nguồn: SSI (2019) Các loại giá của một chứng quyền có bảo đảm: Một CW khi lưu hành sẽ có các loại giá khác nhau, mỗi loại giá có một ý nghĩa riêng, do đó nhà đầu tư cần phân biệt các loại giá trong một chứng quyền. (i) Giá thực hiện (hay còn gọi là giá thực hiện quyền), đây là mức giá mà nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có quyền mua/bán CKCS với TCPH chứng quyền khi nó đáo hạn, và đây cũng là cơ sở so sánh để nhà đầu tư xác định trạng thái và mức lãi lỗ khi đầu tư vào CW. Mức giá này sẽ được TCPH công bố khi chào bán CW. Thông thường, giá thực hiện sẽ được giữ cố định trong suốt thời hạn của CW và chỉ thực hiện điều chỉnh trong một số trường hợp CKCS có sự kiện doanh nghiệp.
(ii) Giá thanh toán, được hiểu đơn giản là mức giá được S DCK xác định và công bố trước ngày đáo hạn của CW. Khoản chênh lệch giữa giá thanh toán và giá thực hiện chính là mức lãi/lỗ của NĐT vào thời điểm đáo hạn của chứng quyền, đây cũng là cơ sở để TCPH thực hiện thanh toán khoản tiền chênh lệch khi NĐT thực hiện quyền. (iii) Giá chứng quyền (hay còn gọi là giá của một chứng quyền), đây là khoản chi phí mà NĐT phải bỏ ra nếu muốn sở hữu chứng quyền. Vào thời điểm phát hành giá, chứng quyền là mức giá chào bán của TCPH.
Khi CW được niêm yết và giao dịch trên Sở GDCK, giá chứng quyền chính là giá giao dịch của CW trên thị trường Cấu trúc giá trong một chứng quyền có bảo đảm: 11 Theo lý thuyết, giá của một chứng quyền khi chưa đáo hạn bao gồm hai phần: giá trị nội tại và giá trị thời gian.2: Trạng thái của CW tại thời điểm đáo hạn Trạng thái Chứng quyền mua Chứng quyền bán Có lãi – ITM Giá CKCS > Giá thực hiện Giá CKCS < Giá thực hiện Lỗ – OTM Giá CKCS < Giá thực hiện Giá CKCS > Giá thực hiện Hòa vốn – ATM Giá CKCS = Giá thực hiện Giá CKCS = Giá thực hiện Nguồn: SSI (2019) Giá trị nội tại của một chứng quyền chính là khoản chênh lệch giữa giá của chứng khoán cơ sở và giá thực hiện của chứng quyền. Khi chứng quyền đang lưu hành, chứng quyền luôn tồn tại một trong ba trạng thái sau: Giá trị thời gian của chứng quyền là chênh lệch giữa giá của chứng quyền trên thị trường và giá trị nội tại của chứng quyền đó. Một chứng quyền ở trạng thái lỗ (OTM) sẽ không có giá trị nội tại mà chỉ có giá trị thời gian. Giá trị thời gian của chứng quyền sẽ giảm theo thời gian và bằng 0 vào ngày đáo hạn của chứng quyền.
Phân loại chứng quyền có bảo đảm Hiện tại trên TTCK, CW có nhiều cách chia khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia. Phố biến nhất hiện nay, thì CW được chia theo một số sách như sau: Cách thứ nhất: dựa vào khả năng sinh lời, chứng quyền được chia làm hai loại chính là chứng quyền mua và chứng quyền bán. Hiểu một cách đơn giản chứng quyền mua là loại chứng quyền mà người sở hữu chứng quyền được quyền (không có nghĩa vụ) mua một số lượng CKCS theo mức giá thực hiện hoặc nhận khoản tiền chênh lệch khi giá của CKCS hơn giá thực hiện tại thời điểm thực hiện (SSI, 2019). Đối với chứng quyền mua này, nếu tại thời điểm gần sát ngày đáo hạn, giá CKCS có xu hướng tăng thì NĐT (người sở hữu chứng quyền) sẽ được hưởng lợi.
Cụ thể trong trường hợp này, NĐT nên thực hiện quyền để được mua CKCS với mức giá thực hiện nhỏ hơn giá thị trường, hoặc sẽ nhận phần chênh lệch lãi nếu quy đổi ra tiền, đây là thành quả khi NĐT đầu tư vào chứng quyền mua.