đặt vấn đề trên đây, ít nhiều CNCN đã được mô tả, dù mới chi dừng ở những nét thuộc tính của nó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu CNCN- với tư cách là một phạm trù triết học - đạo đức học thuộc về một hình thái ý thức xã hội, phản ánh một tồn tại xã hội tương ứng. Đặc biệt, mong một số tác phẩm, các ông đã trực tiếp nói đến phạm trù CNCN, bình luận hoặc gián tiếp nêu nội dung tư tưởng về nó. Trong “Gia đình thần thánh” hay “Vấn đề Do thái”, C.Mác đề cập tới con người vị kỷ với tư cách là những thành viên của xã hội, những họ lại là những cá nhân khép kín, mọi suy nghĩ và hành động của họ đều hướng nội- vào cái tôi của mình, vì lợi ích riêng của mình, đồng thời họ đòi hỏi xã hội và người khác hành động đáp ứng thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ.
Vì thế, họ là những con người tách khỏi cái tổng thể của xã hội. Trong “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”.Ăngghen vạch rõ: Chính những lợi ích thấp hèn nhất như tính tham lam tầm thường, lòng thèm khát hưởng lạc thô bạo, tính bủn xỉn bẩn thỉu, nguyện vọng ích kỷ đã báo hiệu sự ra đời của xã hội dựa trên nền tảng chế độ tư hữu, xã hội có giai cấp. Và trong suốt tiến trình lịch sử tổn tại của chế độ tư hữu, bản thân xã hội đó vẫn đem lại lợi ích, thoá mãn nhu cầu của thiểu số chiếm hữu tư liệu sản xuất trên mồ hôi nước mắt và xương máu của tuyệt đại đa số nhưng người bị áp bức, bóc lột.Lênin chỉ ra trong “Nhiệm vụ của đoàn thanh niên”: xã hội cũ xây dựng trên nguyên tắc cướp đoạt, do đó, những người được đào tạo ở trong xã hội đó, ngay từ khi còn bú mẹ đã nhiễm phải một tâm lý, một tập quán là chỉ lo nghĩ về của riêng mình chứ không quan tâm đến người khác. Kế thừa những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định rằng, CNCN đối lập, xa lạ với chủ nghĩa xã hội (CNXH), là kẻ thù hung ác của CNXH.
Song, CNXH không hề phủ nhận cá nhân, trái lại, đề cao, tôn trọng con người cá nhân, các giá trị và nhu cầu cá nhân, phát triển mọi năng lực cá nhân vì phát triển xã hội và hạnh phúc của con người [79, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rõ ràng, nhất quán, cụ thể và sâu sắc về CNCN, bản chất CNCN và những biểu hiện đa dạng cũng như hậu quả của nó dưới góc độ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức. Về khái niệm CNCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc tinh tế.
CNCN “là so bì đãi ngộ: lương thấp, cao, quần áo đẹp, xấu, là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn”[53, tr. 31]; “CNCN là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể “57, tr. 306]; hoặc: “CNCN, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc” [51, tr. lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác ,[56, tr.
Như vậy, nói về CNCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt CNCN trong mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, xã hội và chỉ rõ cái cốt lõi của nó là chỉ nhấn mạnh một chiều lợi ích của cá nhân mình, gia đình mình, mà không thấy lợi ích chung, đó là lối suy nghĩ và hành động theo phương châm “mọi người vì mình”, bỏ qua cái nghĩa vụ “mình vì mọi người”. CNCN là những biểu hiện xấu, trái với đạo đức cách mạng, cần phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ. Trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả hoặc tập thể tác giả, khái niệm CNCN đã được đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau. Từ điển triết học (bản dịch ra tiếng Việt): “CNCN- nguyên tắc đạo đức đặc biệt đặc trưng cho hệ tư tưởng và luân lý tư sản.
Cơ sở lý luận của CNCN là thừa nhận sự tự trị và những quyền tuyệt đối của cá nhân trong xã hội” [73. 58] Từ điển triết học giản yếu (Hữu Ngọc chủ biên) “CNCN: nguyên tắc hành vi cho cá nhân là có quyền tuyệt đối, tự do và độc lập đối với xã hội và Nhà nước [68, tr. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “CNCN- thế giới quan dựa trên cơ sở đem đối lập cá nhân riêng lẻ đối với xã hội, về đạo đức hướng theo chủ nghĩa ích kỷ, và trong những hình thức cực đoan của nó dẫn đến chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa hư vô “[ 103, tr. Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên): “CNCN- nhân sinh quan của những người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi ấy lên trên quyền lợi của đoàn thể, xã hội” [82, tr.
Từ điển bách khoa Việt Nam (tập l): “CNCN, quan niệm mỗi cá nhân là có quyền tuyệt đối, tự do và độc lập đối với xã hội” [22. Luận án phó tiến sĩ triết học của Nguyễn Chí Mỳ có nêu: “CNCN là sự đối nghịch cá nhân và xã hội, bắt lợi ích xã hội phục tùng lợi ích cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên tất cá” [61, tr. Những quan niệm trên đây đã đi sâu khát quát CNCN ở các khía cạnh nổi bật của nó. Tuy nhiên, theo chúng tôi, dưới góc độ triết học- chính trị - xã hội, CNCN không chỉ được nhìn nhận như là vấn đề tư tưởng, đồng thời nó còn là một vấn đề đạo đức lối sống.
CNCN là vấn đề thế giới quan, nhưng nó cũng thuộc vấn đề nhân sinh quan của mỗi cá nhân hay một bộ phận cá nhân trong cộng đồng, xã hội gắn liền với cơ sở hiện thực nhất định. Dựa theo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNCN và kế thừa những thành quả nghiên cứu xung quanh vấn đề này. chúng tôi cho rằng: CNCN là một kiển thế giới quan, nhân sinh quan dựa trên cơ sở tuyệt đối hoá vai trò và lợi ích cá nhân, đề cao tự do cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của chính cá nhân Kiểu thế giới quan, nhân sinh quan này, xét đến cùng, chính là kiểu thế giới quan, nhân sinh quan phức hợp, bao gồm cá mặt duy tâm chủ quan lẫn duy vật tầm thường. Vì việc chỉ nhấn mạnh đến mức cực đoan cá nhân, bỏ qua hoặc đi ngược lại những đòi hỏi khách quan cần phải giải quyết hài hoà các mối quan hệ, đảm bảo sự tổn tại và phát triển bình thường của đời sống cá nhân và xã hội đã làm xuất hiện tính chất duy tâm chủ quan của kiểu thế giới quan, nhân sinh quan này.
Còn việc chỉ chú trọng đến lợi ích vật chất, kinh tế thuần tuý của cá nhân lại làm cho kiểu thế giới quan, nhân sinh quan đó tiến tới chỗ duy vật tầm thường. Tiếp cận sâu hơn, sẽ thấy những khác biệt trong biểu hiện của CNCN như một thế giới quan và như một nhân sinh quan. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ vai trò, chức năng độc lập của thế giới quan, nhân sinh quan và hoàn cánh lịch sử cụ thề quy định chúng. Với tư cách là một hệ thống tổng quát những tri thức, quan điểm về thế giới, gồm toàn bộ các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và bản thân con người, vấn đề chủ yếu của một thế giới quan cũng là vấn đề cơ bản của triết học.
Do đó, khi tồn tại như một luận thuyết, CNCN không thể không có một thế giới quan riêng. Hơn nữa, trong vai trò là hạt nhân lý luận của nhiều loại chủ nghĩa thuộc hệ tư tưởng tư sản. CNCN càng biểu hiện như một cơ sở thế giới quan cho các loại chủ nghĩa đó. Không phải ngẫu nhiên, khi bàn về “Chủ nghĩa vô chính phủ và CNXH”, V.
Lê nin đã cho rằng : “CNCN là cơ sở của toàn bộ thế giới quan của chủ nghĩa vô chính phủ” [29,tr. Từ điển bách khoa Việt Nam đã nêu nhận xét: “CNCN là cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa vị kỷ. Với tư cách là một hệ thống thái độ đối với cuộc sống, với những người xung quanh và đối với bản thân. nhân sinh quan thường xuyên, trực tiếp phản ánh các khía cạnh phong phú và phức tạp của đời sống con người.
Tính chất “hướng nội” rất đặc trưng đó của nhân sinh quan đã làm cho nó có những khác biệt nhất định so với thế giới quan xét về phạm vi, nội dung và mức độ phản ánh. Do đó, khi CNCN biểu hiện như một nhân sinh quan thường gắn liền với những diễn biến tâm lý, tư tưởng, với các quan hệ đạo đức, lối sống của con người. Và chính từ góc độ động này, diện mạo “thiên hình vạn trạng” của CNCN đã được hiện lên rõ nét hơn. Cũng vì vậy, cần phải thông qua vô số những dữ liệu từ trong xu hướng, tính cách, năng lực, các quan hệ ứng xử xã hội và tự ứng xử của mỗi cá nhân mới có thể định vị được rõ ràng bộ mặt thật của nó.
Nhưng những dấu hiệu nổi bật của bộ mặt ấy không có gì khác ngoài mục đích, động cơ vụ lợi, thực dụng, ích kỷ, lẽ sống tất cá vì tiền, coi thường kỷ luật, truyền thống, đẫm đạp lên bổn phận, lương tâm, đạo lý làm người, bất chấp dư luận xã hội, kỷ cương và pháp luật. Dĩ nhiên, việc phân định CNCN nêu trên chỉ mang một ý nghĩa tương đối, bởi vì, giữa thế giới quan và nhân sinh quan vốn không có bức tường thành nào ngăn cách cá. Hơn nữa, có thể coi nhân sinh quan là một bộ phận trọng yếu của thế giới quan. Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan nào cũng có điểm xuất phát từ một thế giới quan tương ứng và “nội tâm hoá” nó theo những yêu cầu của giai cấp thống trị xã hội.
Trong quá trình hình thành và phát triển, kiểu thế giới quan, nhân sinh quan nói trên luôn gắn liền và bị quy định bởi tồn tại xã hội. CNCN với tư cách là một phạm trù của một hình thái ý thức xã hội nhất định, nó chi có thể là sự phản ánh tồn tại xã hội đó. Trước tiên, xét về mặt kinh tế, CNCN bắt nguồn từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.