Chương 1: Tổng quan về Chéng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp. Chương 2: Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp theo Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành. Chương 3: Đánh giá quy định pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật. TONG QUAN VE CHONG CANH TRANH KHONG LANH MANH TRONG LINH VUC QUYEN SO HUU CONG NGHIEP 1.
Khái quát chung về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh là một hiện tượng xuất hiện trên thị trường ở mọi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trên thế giới cũng như ở hầu hết mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong nước và quốc tế như thể thao, nghệ thuật, chính tri, quân sự,. Lich sử cũng đã chứng minh sự cạnh tranh là một nguyên nhân thúc đây những bước tiễn vượt bậc của nhân loại, tiêu biéu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô từ nửa sau thế kỷ XX, hai quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về khoa học, công nghệ, đặc biệt là sự kiện lần đầu đưa con người lên khoảng không vũ trụ của Liên Xô năm 1961 và lần đầu đưa con người đặt chân lên Mặt Trăng của Hoa Kỳ chỉ tám năm sau đó. Hiện nay, dưới góc độ kinh tế, có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh! nhưng tựu trung lại, cạnh tranh chính là “sự ganh đua giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tranh giành, chiếm ưu thé về tài nguyên, thi phần, khách hàng về phía mình”; sự cạnh tranh thường được xem xét trong một thị trường sản phẩm nhất định hoặc trong thị trường liên quan, nơi mà hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả trong một không gian địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự nhau và khác biệt đáng kế so với khu vực khác.
Cạnh tranh được coi là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế bởi muốn dẫn đầu hoặc tạo dựng lợi thế trước các đối thủ thì từng chủ thể trong thị trường phái nỗ lực, không ngừng cải tiễn và nâng cao chất lượng, hàm lượng tri thức, công nghệ, cũng như điều chỉnh chỉ phí, giá cả đối với các sản phẩm của mình, điều này không chỉ giup các nhà sản xuất, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp) tiễn về phía trước mà còn vô hình trung đem lại phúc lợi cho toàn bộ người tiêu dùng trong xã hội và đóng góp to lớn vào công cuộc phát triên bên vững của từng quôc gia trên thê giới. ! Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 6 7 Dưới góc nhìn thứ ba của nhà nước hoặc người tiêu dùng, thị trường có tính cạnh tranh được coi là một tình thế tích cực, đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng và nền kinh tế.
Nhưng đưới góc nhìn thứ nhất của những người trực tiếp tham gia vào trong môi trường cạnh tranh đó, như với những chủ thể đã có định vị, vị thế nhất định trong thị trường thi việc cạnh tranh lại là một áp lực rất lớn đè nặng lên lợi nhuận của họ và luôn tiềm ân nhiều nguy cơ như that thé, thụt lùi, rủi ro khi áp dung các mô hình, phương thức kinh đoanh mới, bị các đối thủ vượt lên hoặc bỏ xa. Tương tự đối với những chủ thể, mặt hàng mới gia nhập hoặc lấn sân sang một thị trường mới, việc tìm chỗ đứng cũng là một công việc mang lại nhiều khó khăn và thử thách. Chính vì vậy, nhiều chủ thé, thay vì sử dụng những con đường chính đáng dé phát triển thì họ lại sử đụng những “con hẻm tắt” dé đạt được mục đích một cách bat chính. Nhiều thủ đoạn đã được thực hiện nhằm giảm thiểu, thủ tiêu hoặc làm chệch hướng những nguyên tắc của cạnh tranh thông qua các hành vi: (i) han chế cạnh tranh (thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lam dụng vị thế thống lĩnh thị trường, lạm dung vi trí độc quyền), (ii) tập trung kinh tế, và (iii) cạnh tranh không lành mạnh.
Trong đó, việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế là một phần của chế định chống độc quyền (antitrust), về ban chất, các hành vi này không hoàn toàn mang tính cách tiêu cực? và không bị các cơ chế công quyền ngăn cắm tuyệt đối, đại đa số đều có thé được thực hiện dưới một điều kiện, khuôn khổ nhất định miễn là không vượt quá giới hạn cho phép và gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kế trên thị trường. Trai lại, đối với cạnh tranh không lành mạnh (unfair competition), bất kỳ xử sự nào của chủ thể trong hoạt động kinh doanh được xác định có dấu hiệu của cạnh tranh không lành mạnh đều bị nghiêm cắm bởi những hành vi này đều phản bội và đi ngược ? Chẳng hạn, theo pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam, các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cam được quy định tại Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2018 như sau: “Điều 14. Miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm 1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1,2,3,7,8,9 10 và II Điều 11 bị cam theo quy định tại Điêu 12 của Luật nay được miễn trừ có thời hạn nếu có lợi cho người tiêu dùng và dap ứng mot trong các điều kiện sau đây: a) Tác động thúc đâu tiễn bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dich vụ; b) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế; ©) Thúc đây việc áp dụng thông nhất tiêu chuẩn chat lượng, định mức kỹ thuật của chúng loại sản phẩm; 3) Tihong nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tô của gid.” 8 lại với đạo đức kinh doanh, thông lệ truyền thống và những nguyên tắc nền tảng để xây dựng một thị trường khỏe mạnh như công bằng, thiện chí, trung thực.
Một điểm khác biệt cơ bản nữa giữa chế định chéng độc quyền và chế định chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới là về chức năng, khi chống độc quyền có vai trò gìn giữ, thúc đây môi trường tự do cạnh tranh trong kinh doanh, còn chống cạnh tranh không lành mạnh lại được đặt ra nhăm đảm bảo các chủ thể tham gia thị trường phải tuân thủ theo “luật chơi”. Trong bối cảnh hiện đại, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hành vi, cạnh tranh không lành mạnh có thé được chia thành các dạng như sau: các hành vi mang tinh phi bang, xuyên tac về đối thủ cạnh tranh và cản trở, chèn ép hoạt động kinh doanh của đối thủ?; các hành vi lôi kéo khách hàng bất chính bằng thi đoạn gây hiệu lam‘; và các hành vi lợi đụng trái phép lợi thế cạnh tranh của thương nhân khác. Đây đều là các hành vi gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại cho doanh nghiệp cũng như tác động tiêu cực đến người tiêu dùng và nền kinh tế quốc gia; chính vì vậy cần thiết phải có sự can thiệp, tác động vào thị trường từ “bàn tay hữu hình” của nhà nước nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu hiệu. Như vậy, qua những phân tích trên cũng như dựa theo các quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành, có thể rút ra một khái niệm tổng quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Hành vì cạnh tranh không lành mạnh là bất kỳ hành vi nào cua chu thể kinh doanh trải với các chuẩn mực, thông lệ, tập quan trung thực và thiện chi trong công nghiệp, thương mai, gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho chủ thể kinh doanh khác, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng và nên kinh tế thị trường”.
Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp Quyền SHCN là một dạng tài sản trí tuệ (bên cạnh quyền tác giả và quyền liên quan, quyền đối với giống cây trồng), trong đó ghi nhận quyền độc quyền trong việc khai thác, sử dụng và hưởng lợi từ các đối tượng quyền SHCN đo mình sáng tạo ra hoặc sở 3 Các hành vi thuộc nhóm này được quy định tại các khoản 2, 3, 4, và 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 * Các hành vi thuộc nhóm này được quy định tại khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 9 hữu, và đồng thời được bảo hộ về mặt pháp lý trước hành vi xâm phạm, sử dụng trái phép các đối tượng quyền SHCN. Hiện nay, theo quan điểm chung được công nhận trên phạm vi toàn cầu và bởi Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), các đối tượng quyền SHCN bao gồm: sáng chế, kiểu đáng công nghiệp, thiết kế bé trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mai, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh. Trong đó, cơ sở xác lập quyền SHCN giữa các đối tượng quyền không giống nhau bởi bản chất, đặc điểm, chức năng cũng như mục dich sử dụng các đối tượng quyền SHCN có nhiều sự khác biệt.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới, quyền SHCN được xác lập như sau: (i) Quyén SHCN xác lập trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ theo thủ tục nộp đơn đăng ký được áp dụng với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, chi dẫn địa lý. Đây cũng là mô hình dang được áp dụng phổ biến trên thế giới hiện nay, một số quốc gia, tiêu biéu là Hoa Kỳ, trước đây từng áp đụng quy định về bảo hộ sáng chế dựa trên cơ sở phát minh đầu tiên (first-to-invent) nhưng vào năm 2013, nước này đã chuyển đổi sang cơ sở nộp đơn đăng ký đầu tiên (first-to-file) nhằm hài hòa, tương thích với hệ thống văn bằng sáng chế (patent) quốc tế. (ii) Quyén SHCN déi voi tén thương mại được xác lập trên cơ sở sử dung hợp pháp.