Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT ĐÔ THỊ 1. Chính sách công và thực hiện chính sách Theo chương trình học rất nhiều khái niệm về chính sách công. Có thể kể đến một số tiêu biểu như sau: - Chính sách công theo Thomas Dye: “Chính công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hay không làm”; B. Guy Peter định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”; theo Charle L.Cochran anh Eloise F.
Malone thì: “ Chính sách công bao gồm các quyết định chính trí để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội”; Clarke E. Cochran lại cho rằng “Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của Chính phủ/ chính quyền và những ý định quyết định hành động này hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì” - Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm. Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làm phải có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sách công. Tiến Sỹ Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.
So với các quan niệm trên thì điểm khác căn bản trong cách tiếp cận nhận thức về chính sách công là tính công của chính sách, tính công thể hiện trong quan niệm của TS. Đặng Ngọc Lợi là nhà nước, chính phủ khác với quan niệm của các học giả Âu Mỹ xem tính công của chính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, tác động của chính sách); 6 Luan van - PGS. Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” [Lỗi! Không tìm thấy nguồn tham chiếu.] tuy vậy theo bà chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau. Trong bài viết của mình PGS.
Lê Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách tư” là chính sách do các cơ quan, tổ chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan, tổ chức, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức. Như vậy, so với các quan niệm đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn (coi quá trình thực hiện là một phần của chính sách công). Tuy có những định nghĩa, cách hiểu khác nhau về chính sách công, nhưng gần đây nhất, tại Nghị định của Chính phủ số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã xác định chính sách công “là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định” (Điều 2). Thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành trong chu trình chính sách, là quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước thể hiện cụ thể trong chính sách thành các kết quả cụ thể, đạt được mục tiêu của chính sách thông qua hệ thống tổ chức và công cụ quản lý nhà nước với sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị và các đối tượng (khách thể) chính sách.
Rác thải sinh hoạt đô thị và xử lý rác thải Theo khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Quốc hội, 2014). Trong Luật BVMT năm 2020 thì “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, 7 Luan van khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoạt động khác” (khoản 18, Điều 3). Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.
Lượng chất thải sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người quy định chặt chẽ và chi tiết hơn đối với các loại chất thải, trong đó xác định đối với chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi được phân loại giảm thiếu tối tối đa các loại rác thải không cần thiết ra môi trường bên ngoài, có khả năng tái sử dụng, tái chế và chất thải rắn sinh hoạt khác. Rác thải sinh hoạt là toàn bộ các vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động đời sống, trong đó quan trọng và nhiều nhất là chất thải rắn. Thực hiện chính sách xử lý rác thải sinh hoạt đô thị Thực hiện chính sách xử lý rác thải sinh hoạt là quá trình chuyển hóa các quy định của chính sách về quản lý chất thải thành các kết quả cụ thể, đạt được các mục tiêu của chính sách này thông qua hệ thống tổ chức và công cụ quản lý nhà nước với sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị và các đối tượng (khách thể) chính sách. Việc tổ chức thực hiện chính sách nói chung, chính sách xử lý rác thải sinh hoạt đô thị nói riêng ở cấp độ địa phương phải được gắn với đặc thù, đặc điểm của địa bàn (nơi) thực hiện chính sách, cụ thể đối với xử lý rác thải sinh hoạt đô thị thì không chỉ gắn với rác thải sinh hoạt đô thị (khối lượng, thành phần chất thải, …) mà còn cả với chủ thể thải bỏ là người dân đô thị (ý thức, nhận thức, tập quán, thói quen, …).
Mức độ tham gia của các bên liên quan (nhà nước, người dân, các tổ chức xã hội, …) có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách, trong đó người xả thải phải có ý thức và trách nhiệm chính ngay từ khi xuất hiện rác thải (như giảm thải, phân loại) cho đến loại bỏ và xử lý sau đó (thông qua các tổ chức dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý cuối cùng theo nguyên tắc người xả thải phải trả tiền). Nhà nước với vai trò người quản lý tạo điều kiện, môi trường thuận 8 Luan van lợi cũng như kiểm tra, giám sát việc thu gom, vận chuyển và xử lý cuối cùng rác thải. Chính sách quốc gia về xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 1. Quan điểm và mục tiêu chính sách.
Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018 đã xác định các quan điểm chỉ đạo và định hướng làm cơ sở cả cho việc xây dựng và cả cho việc tổ chức thực hiện chính sách quản lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn sinh hoạt đô thị, như sau: - Đảm bảo sự quản lý thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương về quản lý CTRSH, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường là đầu mối quản lý nhà nước về CTRSH ở Trung ương; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý CTRSH của địa phương; - CTRSH phát sinh phải được quản lý theo hướng coi là tài nguyên, được phân loại, thu gom phù hợp với công nghệ xử lý được lựa chọn; khuyến khích xử lý chất thải thành nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm thân thiện môi trường, xử lý chất thải kết hợp với thu hồi năng lượng, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng và đất nước; - Đầu tư hệ thống quản lý CTRSH phải đồng bộ, bao gồm xây dựng cơ sở xử lý CTRSH, công tác thu gom, vận chuyển trên cơ sở công nghệ phù hợp. Thực hiện đầu tư cho quản lý CTRSH phải có trọng tâm, trọng điểm và ưu tiên cho từng giai đoạn cụ thể, tránh dàn trải, kém hiệu quả; - Việc đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý CTRSH phải được thực hiện bằng những công nghệ tiên tiến, đi thẳng vào hiện đại, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, hạn chế thấp nhất lượng CTRSH phải chôn lấp; - Việc tăng cường nguồn lực cho các địa phương trong công tác quản lý CTRSH phải đi kèm với việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện. Mục tiêu chính sách.