MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã bước vào nhóm những nước đang phát triển có thu nhập trung bình và đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Trong văn kiện đại hội Đảng khóa XI đã nêu rõ: phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời “ thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Bởi vậy, an sinh xã hội đã trở thành vấn đề trung tâm trong các chiến lược phát triển của đất nước.
Điều này cũng rất phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, đất nước “của dân, do dân, vì dân”. Cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ thứ 19 đã khiến cuộc sống người lao động gắn chặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại. Chính vì vậy mà những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau bệnh tật, tuổi già sức yếu, tại nạn mất khả năng lao động…đã trở thành mối lo ngại đối với những người lao động. Thế nhưng con người chúng ta muốn tồn tại và phát triển được thì phải đảm bảo những nhu cầu cần thiết của cuộc sống.
Vậy những người mất khả năng lao động thì họ khó có thể tự lo cho cuộc sống của mình nếu họ không nhận được những trợ giúp từ phía xã hội và nhà nước. Xã hội muốn phát triển thì tất cả các tầng lớp, các nhóm người đều cần phải có sự phát triển một cách đồng bộ. Trong hơn gần 30 năm qua, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu cơ bản về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được hiện nay chúng ta vẫn còn đứng trước một loạt các vấn đề cần giải quyết. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải giải quyết ngày càng tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội.
Những chuyển biến mang tính cách mạng đó đã đưa lại sự tăng trưởng chưa từng có của nền kinh tế trong nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm từ 1986 đến 2000 đạt 6,3%. Trong đó tốc độ tăng GDP trong những năm 1986-1991 có sự dao động rất lớn. Từ 1992-1997 tốc độ tăng trưởng GDP đều ở mức cao và khá ổn định (1992 đạt 8,6%; 1993:8,1%; 1994: 8,8%; 1995: 9,5%; 1996: 9,3%; 1997: 8,2%).
Do tác động của khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực từ năm 1997-1999 tốc độ tăng GDP nước ta cũng 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com suy giảm theo. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng GDP từ 2000 đến 2003 được khôi phục và đạt mức tăng bình quân 6,97%/năm. Đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng này đạt 8,4%/năm. Với tốc độ tăng trưởng đó, nước ra đứng vào hàng các nước có mức tăng trưởng khá cao so với trong khu vực.
Những thành tựu đã đạt được trong tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất để chúng ta thực hiện công bằng xã hội [16]. Bên cạnh bức tranh kinh tế với màu sắc tăng trưởng khá tươi mới thì chúng ta cũng thấy những màu sắc ảm đạm đối với những nhóm người gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống nhất là những nhóm chịu ảnh hưởng của chiến tranh, nhóm người bị khuyết tật. Bản thân của sự tăng trưởng đó cũng đã để lại những tác động không mong muốn đó là tạo ra những sự chênh lệch trong xã hội trong đó phải kể đến những nhóm bị loại trừ xã hội. Đó là những nhóm không đủ năng lực để thích nghi, để vươn lên trong cuộc sống và đương nhiên họ sẽ trở thành những người bị động, không làm chủ được việc làm, thu nhập và tiếp cận giáo dục đào tạo.
Chính vì thế, rất cần có những chính sách điều chỉnh phù hợp để tạo nên công bằng xã hội, giảm thiểu những rủi ro không đáng có đối với những nhóm người “thiệt thòi”. Trong hệ thống chính sách mà Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng phải kể tới hệ thống an sinh xã hội. Một trong những trụ cột của hệ thống an sinh xã hội đó chính là chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên. Trong lĩnh vực nghiên cứu đã có rất nhiều nghiên cứu diễn ra trên nhiều cấp độ cả vi mô và vĩ mô với nhiều góc nhìn khác nhau nhằm đưa ra cái nhìn đa chiều về chính sách, đánh giá độ hiểu quả khi chính sách triển khai đến người dân.
Nhưng hiện tại chưa có một nghiên cứu cụ thể nào được thực hiện ở Thái Bình về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên. Dưới góc độ xã hội học, người dân đánh giá như thế nào về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên? Dưới tác động của chính sách thì đời sống của đối tượng đang diễn ra như thế nào? So với những mong muốn thì mức độ hài lòng đối với chính sách hiện nay như thế nào? Để giải quyết tất cả những vấn đề cấp bách đó chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên qua khảo sát tại xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com An sinh xã hội là một nội dung nghiên cứu rộng lớn và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về an sinh xã hội đã xuất hiện với nhiều chiều hướng nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau.
Trong những năm 1980, các nghiên cứu về chính sách xã hội và phúc lợi xã hội được tiến hành nghiên cứu với hai đề tài chính “Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp cơ sở nông thôn và đô thị” (1983 - 1985) và đề tài “Chính sách xã hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa” (1987 - 1989). Đề tài sau nằm trong khuôn khổ hoạt động hợp tác quốc tế của 8 nước xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, đây là những nghiên cứu đầu tiên về chính sách xã hội ở Việt Nam. Tuy chưa có được những cơ sở lý luận thật sự vững chắc về lĩnh vực chính sách xã hội và phúc lợi xã hội, nhưng những thành quả chính vẫn khá nổi bật.
Các bài viết về chính sách xã hội như “Quản lý xã hội ở cấp phường thành phố Hà Nội” (Viện Xã hội học, 1985), “Chính sách xã hội Việt Nam” (Viện Hàn lâm Khoa học Đức, 1989), “Một phân tích tổng quan về chính sách xã hội ở Việt Nam” (1989) đã mang lại những thông tin hết sức kịp thời cho khoảng thời gian đầu tiên thiếu hụt thông tin về chính sách xã hội và phúc lợi xã hội thời kỳ đầu ở Việt Nam. Từ năm 1992 trở đi, các nghiên cứu đã dần cố gắng chứng minh tầm quan trọng của học thuyết chính sách xã hội Việt Nam sang kinh tế thị trường tất yếu đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng lại học thuyết chính sách xã hội cho đất nước. Một số nghiên cứu quốc tế đã khái quát hóa từ thực tiễn chính sách xã hội thế giới thành ba mô hình chính sách xã hội. Các nghiên cứu đã gợi ý mô hình chính sách xã hội của Việt Nam phải xuất phát từ thực tế lịch sử chính sách xã hội để đưa ra một kết hợp cụ thể thích ứng với bản thân.
Trong thời điểm những năm 1990, các công trình nghiên cứu hoàn thiện lý luận về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được chú trọng. “Một số vấn đề về chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay” (1993) thuộc đề tài “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, một đề tài nhánh thuộc đề tài Khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Những luận cứ khoa học cho việc đổi mới các chính sách xã hội và việc quản lý thực hiện chính sách xã hội” (KX. Tác phẩm này là 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự tổng hợp các bài viết, tham luận của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách ở nhiều cơ quan khác nhau về vấn đề xung quanh lĩnh vực bảo đảm xã hội như Bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội. Không những vậy, các nghiên cứu đã nỗ lực đi sâu nhận diện những đặc trưng của hệ thống phúc lợi xã hội quốc gia: “Một phân tích về phúc lợi xã hội quốc gia, nêu lên 10 đặc điểm vấn đề cơ bản” (1999), nghiên cứu này đã tổng kết được 10 đặc điểm và vấn đề cơ bản của phúc lợi xã hội ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, những nghiên cứu về chính sách phúc lợi cho người cao tuổi bước đầu được tiến hành như “Một phân tích hệ thống đầu tiên đối với dân số học về sự già hóa và chính sách người cao tuổi Việt Nam” (1999); Cũng trong những nghiên cứu mang tính lý luận về hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1999) đã đưa ra “Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu này được dựa trên xem xét, nghiên cứu một số mô hình và kinh nghiệm quốc tế có lựa chọn, thực tiễn chính sách xã hội ở Việt Nam, nhằm định hướng lâu dài cho khung chính sách xã hội ở Việt Nam, tạo ra nền tảng cho sự phát triển; đồng thời đề ra một số kiến nghị cụ thể, một số mô hình cải cách đối với bốn lĩnh vực tồn tại nhiều vấn đề ở thời điểm đó: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bồi thường tai nạn lao động và bảo hiểm thất nghiệp. Đến đầu những năm 2003, các nghiên cứu tiến hành xây dựng mô hình phân tích không gian phúc lợi con người và xã hội như“Một phân tích tổng quan về phúc lợi quốc gia, nêu lên 8 khuyến nghị chính (Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: Hiện trạng, vẩn đề và điều chỉnh, Báo cáo Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)” (2003) đã cho thấy sự chuyển biến về định hướng trong nghiên cứu chính sách xã hội và phúc lợi xã hội. Những công trình trong giai đoạn này dần tiến đến việc hoàn thiện các khái niệm về lý thuyết cũng như bộ khung nghiên cứu chuẩn về phúc lợi xã hội và chính sách xã hội tại Việt Nam.