MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đảng, Nhà nước và xã hội luôn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội, trong đó có người khuyết tật (NKT). Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6/1991) đã chỉ rõ: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi” [10; tr.
Đồng thời khẳng định mọi thành viên, bao gồm cả NKT đều được nhà nước bảo đảm quyền công dân như nhau và đều được hưởng các thành quả chung của sự phát triển xã hội. Hiện nay, Việt Nam đã có hệ thống chính sách trợ giúp xã hội cho những đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH) nói chung và NKT nói riêng. Chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) cho đối tượng BTXH ở Việt Nam được hình thành từ khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945, với mục đích là cứu đói cho những người chịu hậu quả chiến tranh, hậu quả thiên tai, trẻ em mồ côi, NKT. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách TGXH đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu của xã hội, đến nay chính sách TGXH là một trong những chính sách bộ phận quan trọng của chính sách an sinh xã hội (ASXH).
TGXH không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh mà đã mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất, trợ giúp thường xuyên (trợ giúp thường xuyên cộng đồng, nuôi dưỡng trong các cơ sở BTXH). Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính sách bộ phận, đặc biệt như chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng gồm có các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp y tế, trợ giúp giáo dục, trợ giúp việc làm, trợ giúp học nghề,.Chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đã được quy định trong hệ thống các luật và văn bản hướng dẫn luật. Các chính 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đối tượng yếu thế nói chung và NKT nói riêng, tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện đòi hỏi của xã hội và NKT, chưa bao phủ hết bộ phận NKT cần trợ giúp, hiệu lực, hiệu quả của chính sách chưa cao. Với những lý do trên việc nghiên cứu "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng trong đời sống NKT" (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) là rất cần thiết.
Tác giả mong muốn nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đối với NKT cũng như đánh giá tác động mà các chính sách đó tới đời sống NKT để tìm ra các giải pháp hoàn thiện chính sách. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong những năm qua, với các phương pháp tiếp cận khác nhau đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về TGXH thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu này thường nghiên cứu các đối tượng BTXH nói chung. Cụ thể như: Năm 1993, Hoàng Chí Bảo đã nghiên cứu “ Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay”. Năm 1996, Trần Đình Hoan nghiên cứu về “Chính sách xã h ội và đổi mới cơ chế quản lý việc thực hiện”, Đỗ Minh Cương và M ạc Văn Tiến nghiên cứu đề tài “Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách ASXH ở nước ta hiện nay”.
Năm 2004, Lê Bạch Dương và các tác giả đã xuấ t bản cuố n “B ảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam”. Nhìn nhận chức năng TGXH thư ờng xuyên cộng đồng như hê ̣ thố ng BTXH , Lê Ba ̣ch Dương và các tác giả (2005) cho rằ ng , TGXH thường xuyên cộng đồng bao gồ m ba ch ức năng chiń h là : các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, bao gồm chủ yếu là những chính sách vĩ mô, chiến lược phát triển và các biện pháp thể chế hỗ trợ; các biện pháp phòng ngừa, bao gồm các dịch vụ bảo hiểm xã hội và các dịch vụ khác để 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giúp cho người dân khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần đến sự cứu trợ và các bi ện pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng bị tổn thương thông qua các khoản khuyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc bằ ng sự hỗ trợ ngắn hạn khác [9, tr. Với phương pháp tiếp cận này các tác gi ả cho rằ ng TGXH thư ờng xuyên cộng đồng gồ m : (i) chính sách BTXH cho nông dân nghèo, (ii) chính sách xã hội như một mạng lưới bảo vệ, (iii) chính sách xã hội như một bàn đạp; (iv) chính sách cho lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, (v) chính sách TGXH cho NKT , (vi) chính sách TGXH cho người bị nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời các tác giả cũng đưa ra những dẫn ch ứng về số liệu, văn bản, nguồ n lực, kế t quả thực hiê ̣n , điể m ma ̣nh , điể m ha ̣n chế của hê ̣ th ống BTXH của Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế cần trợ giúp.
Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu chủ biên cuố n “Giáo trình nh ập môn ASXH” , tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng TGXH và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001-2007 và khuyến nghị tới năm 2015” và đề tài “H ỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH”. Tiế p câ ̣n theo quan điể m hoa ̣ch đinh ̣ chính sách Nguyễn Hải Hữu và một số tác giả khác có cùng quan điể m cho rằ ng TGXH là trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng BTXH gồ m : trẻ em mồ côi; người già cô đơn; người từ 90 tuổi trở lên; NKT nặng; gia đình có từ hai NKT trở lên là người khuyết tâ ̣t nặng không có khả năng tự phục vụ; người nhiễm HIV/AIDS; gia đình, người thân nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bên cạnh đó là trợ giúp về y tế; giáo dục; dạy nghề, tạo việc làm; tiếp cận các công trình công cộng; hoạt động văn hoá thể thao và tr ợ giúp khẩn cấp. Từ đó kiế n nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội , khám chữa bệnh, giáo dục và các chính sách bộ phận khác của chính sách TGXH thư ờng xuyên cộng đồng. Dưới góc độ quản lỷ kinh tế, năm 2009 Mai Ngo ̣c Cường chủ nhiê ̣m đề tài nhà nước “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội”ừt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội, khám chữa bệnh, giáo dục và các chính sách bộ phận khác của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng.
Luận án tiến sĩ “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam” năm 2010 của Nguyễn Ngọc Toản đã chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam, cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc thực hiện chính sách TGXH thường xuyên tại cộng đồng. Đồng thời cũng chỉ ra thực trạng và nhu cầu của các nhóm đối tượng BTXH trong đó có NKT về TGXH, đánh giá kết quả và hạn chế của chính sách đồng thời đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách. Gần 80% NKT không có khả năng lao động, không có thu nhập ổn định phải nhờ vào sự trợ giúp của gia đình và xã hội. Mặt khác đa phần hộ gia đình có NKT là những hộ khó khăn kinh tế.
Bản thân NKT và gia đình đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có 58,34% NKT có khó khăn về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ; 42,73% có khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của NKT, 43,1% có khó khăn vốn sản xuất- kinh doanh; 25,44% khó khăn việc làm, 20% khó khăn tiếp cận công nghệ thông tin, truyền thông, công trình giao thông. Nguyện vọng có 73,67% NKT mong muốn được trợ giúp khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ; 56,48% được trợ cấp xã hội, 43,1% được trợ giúp chỉnh hình, PHCN, 25,7% được trợ giúp việc làm [21, tr. Dưới góc độ xã hội học cũng đã có những nghiên cứu về chính sách xã hội và hệ thống an sinh xã hội.
Năm 2001-2003 Bùi Thế Cường với đề tài cấp Bộ “Hệ thống phúc lợi xã hội Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới”. Năm 2005, Bùi Thế Cường với nghiên cứu chính sách xã hội: Nhìn lại một chặng đường trên tạp chí Xã hội học số 4 năm 2005. Năm 2013, Bế Quỳnh Nga và Đặng Thị Việt Phương làm chủ nhiệm đề tài “Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong mô hình phát triển và quản lý xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng với những nghiên cứu về cơ sở lý luận, trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức cũng đã thực hiê ̣n các nghiên cứu thực tra ̣ng đố i tươ ̣ng BTXH , tình hình thực hiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng nhằ m phu ̣c vu ̣ cho công tác quản ly,́ tổ chức thực thi chiń h sách cũng như đề xuấ t giải pháp đổ i mới, hoàn thiện chính sách và hệ thống thực thi.
Năm 2007, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) nghiên cứu đề tài cấ p bô ̣ hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp về BTXH theo hướng bảo đảm hài hoà công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế. Năm 2008, Viê ̣n nghiên cứu và phát triển xã hội – ISDS thực hiê ̣n điề u tra NKT ở Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồ ng Nai và công bố kết quả về n hững phát hiê ̣n từ điề u tra ; Bô ̣ LĐTBXH thực hiê ̣n “Khảo sát đánh giá tin ̀ h hin ̀ h thực hiê ̣n pháp luâNKT”; ̣t Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thực hiện “Khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT Việt Nam”. Năm 2011, Bộ LĐTBXH phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc thực hiện nghiên cứu “Nghiên cứu định tính về trẻ khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai - Kiến thức, Thái độ, và Thực hành”.