Chương 1:Cơ sở lý lu ận và th ực ti ễn v ề chính sách tiền lương tối thi ểu - Chương 2: Thự c tr ạng chính sách ti ền lương tối thi ểu ở Việt Nam. - Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu giai đoạn 2015-2020. 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU 1. Khái niệm về Chính sách tiền lƣơng tối thiểu “Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” Chính sách là một trong những công cụ quản lý quan trọng, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.“ Chính sách là phương thức hoạt động được một chủ thể khẳng định và thực hiện giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại ”1.
Chính sách thể hiện thái độ của người chủ, người quản lý đối với người lao động và người bị quản lý. Chính sách được xây dựng trên cơ sở của đòi hỏi thực tế khách quan. Mặt khác, chính sách do một nhóm người đại diện xây dựng, vì thế, nó mang yếu tố chủ quan, phục thuộc vào ý chí, cũng như trình độ năng lực của người lập chính sách. Trong chính sách luôn có hai bộ phận quan trọng nhất, đó là mục tiêu cần đạt và các biện pháp để đạt được các mục tiêu.
Chính sách góp phần quan trọng vào định hướng hành vi của các chủ thể nhằm hướng tới mục tiêu chung. Chính sách mang tính lịch sử, nó chỉ phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định. Mặt khác, chính sách phải cụ thể, có chủ thể riêng, đối tượng riêng, không thể có chính sách chung phù hợp với mọi thời kỳ, mọi đối tượng. Khi các đối tượng và môi trường thay đổi thì chính sách phải thay đổi theo để tránh lỗi thời và tăng cường tính hiệu lực của nó.
Chính sách tiền lƣơng tối thiểu là chương trình hành động do các nhà 1 Giáo trình: “ Chính sách kinh tế- xã hội” của khoa Khoa học quản lý – Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật 2000, trang 20,23 5 lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết vấn đề tiền lương tối thiểu trong một quá trình hay giai đoạn phát triển Chính sách tiền lương tối thiểu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế- xã hội của đất nước. Chính sách tiền lương tối thiểu trong doanh nghiệp là các quy định, hướng dẫn của Nhà nước về tiền lương, phụ cấp, hệ thống các đòn bẩy, giải pháp bao gồm việc nghiên cứu, xây dựng, ban hành hệ thống các văn bản, các hướng dẫn về chế độ tiền lương, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện những chính sách tiền lương….nhằm thực hiện phân phối công bằng, minh bạch hài hòa lợi ích người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế- xã hội. Khái niệm tiền lƣơng tối thiểu 1. Khái niệm: Tiền lƣơng tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hành.
Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề. Số tiền đó đủ để người lao động tái sản xuất giản đơn sức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con. Mức lương tối thiểu này được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật. Trong cuộc sống, con người có những nhu cầu tối thiểu cần được đáp ứng là: ăn, ở, mặc, nhu cầu bảo vệ sức khoẻ và duy trì nòi giống.
Ngoài ra còn có những nhu cầu xã hội khác như: học tập, giải trí, giao tiếp, đi lại… Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà nhu cầu của mỗi cá nhân có sự khác nhau. Tuy nhiên, để có thể duy trì cuộc sống thì con người cần phải có đủ điều kiện sinh hoạt ở mức tối thiểu, hay nói cách khác đấy là mức sống tối thiểu của mỗi 6 người. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, mức sống tối thiểu lại khác nhau. Mức sống tối thiểu là mức độ thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của người lao động bao gồm cơ cấu chủng loại các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động giản đơn.
Mức sống tối thiểu của người lao động có liên quan chặt chẽ tới tiền lương tối thiểu, và nó được đảm bảo thông qua tiền lương tối thiểu và các phúc lợi công cộng. Theo quy định của Tổ chức lao động quốc tế thì “Các mức lương tối thiểu được ấn định là bắt buộc với người sử dụng lao động và những người lao động hữu quan, mức lương tối thiểu đó không thể bị hạ thấp bởi những người sử dụng lao động và những người lao động hữu quan dù là thoả thuận cá nhân hay bằng hợp đồng tập thể, trừ phi các nhà chức trách có thẩm quyền cho phép chung hoặc cho phép đặc biệt.” Lương tối thiểu có hiệu lực pháp luật không thể bị hạ thấp, nếu không áp dụng sẽ bị chế tài thích đáng, bao gồm cả những chế tài lịch sử hoặc những chế tài khác với những người chịu trách nhiệm. Theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam: “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt bảo đảm cho người làm công việc giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác” Nói tóm lại, tiền lương tối thiểu được hiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường. Số tiền đó đảm bảo nhu cầu sinh hoạt ở mức tối thiểu cần thiết cho bản thân và gia đình người lao động.
Bản chất của tiền lương tối thiểu: Tiền lương trong sản xuất kinh doanh là yếu tố được tính vào chi phí sản xuất. Nó phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường, giá cả 7 sinh hoạt, tập quán tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp. Về bản chất, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người thuê mướn, sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung - cầu. Trong đó giá trị sức lao động là toàn bộ những chi phí về ăn, ở, đi lại, nhằm bù đắp một lượng nhất định những hao phí sức lao động: cơ bắp, trí tuệ, thần kinh, để duy trì sức khoẻ của bản thân người lao động trong trạng thái bình thường và tái sản xuất sức lao động cả về lượng và chất.
Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành tiền lương. Về bản chất tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động. Tuy nhiên giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của hàng hoá sức lao động. Tiền lương tối thiểu không chỉ được áp dụng cho lao động giản đơn mà là khung pháp lý quan trọng do Nhà nước quy định, mang tính chất bắt buộc người sử dụng lao động phải trả thấp nhất là bằng chứ không được thấp hơn mức Nhà nước ấn định.
Tiền lương tối thiểu được quy định phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ nhằm bảo vệ người lao động. Như vậy tiền lương tối thiểu không phụ thuộc sự thoả thuận của hai bên trong quan hệ lao động mà được quyết định bởi quyền lực nhà nước, tuy nhiên Nhà nước luôn khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng mức lương tối thiểu cho người lao động cao hơn mức Nhà nước quy định. Giá trị sức lao động được coi là cơ sở tính tiền lương tối thiểu bao gồm những chi phí cần thiết để duy trì sức khỏe và đảm bảo tái sản xuất sức lao động ở mức tối thiểu. Nghĩa là tiền lương tối thiểu chỉ đáp ứng cho giá trị sức lao động có trình độ giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất.
Nó không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống của người lao động và gia đình họ, mà chỉ đáp ứng được nhu cầu 8 tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống nhằm tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần tái sản xuất sức lao động mở rộng. Từ khái niệm về tiền lương tối thiểu, ta thấy tiền lương tối thiểu có những đặc điểm sau: * Tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất. Tiền lương tối thiểu được xác định theo công việc, yêu cầu trình độ lao động giản đơn nhất, nghĩa là “trình độ không qua đào tạo”. Điều đó được hiểu là người lao động chỉ yêu cầu trình độ lao động ở mức giản đơn nhất, lao động chân tay, chưa cần qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, không đòi hỏi về tính chất kỹ thuật phức tạp mà không phụ thuộc vào khả năng lao động thực tế của người lao động đó.
* Tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường. Năng suất lao động, sức khoẻ người lao động và cường độ lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Cường độ lao động trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao động và quyết định sức khoẻ người lao động. Trong thực tế, hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về cường độ lao động khi xác định tiền lương tối thiểu.
Việc hiểu “cường độ lao động nhẹ nhàng nhất” còn rất chung chung và trừu tượng. Không những tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với “cường độ lao động nhẹ nhàng nhất mà nó còn được xác định căn cứ điều kiện lao động, điều kiện lao động bình thường”. Điều kiện lao động được hiểu căn cứ vào tổ chức công việc, ngành nghề, điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Điều kiện lao động bình thường chính là điều kiện lao động của một công việc không có tính chất khó nhọc trong môi trường tự nhiên bình thường và điều kiện xã hội ổn định nhất.