phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về chính sách tiền lƣơng trong khu vực nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng 7 z Chƣơng 2: Thực trạng chính sách tiền lƣơng trong khu vực nhà nƣớc ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1993 đến nay Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp về cải cách chính sách tiền lƣơng trong khu vực nhà nƣớc ở Việt Nam trong thời gian tới Mặc dù đã hết sức nỗ lực và được sự giúp đỡ của các thày cô, đồng nghiệp và gia đình, do còn hạn chế về tài liệu, số liệu và thời gian nghiên cứu, luận văn của tôi vẫn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết cần sửa đổi và bổ sung hoàn thiện. Tôi mong nhận được sự quan tâm và góp ý của các thày cô, đồng nghiệp và tất cả những bạn đọc quan tâm đến chủ đề này. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƢƠNG TRONG KHU VỰC NHÀ NƢỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1 Tiền lương/tiền công Trong xã hội tư sản, sức lao động biến thành hàng hoá nên tiền công chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động. Song dưới CNTB, tiền công che dấu sự bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.Mác viết: "Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của sức lao động, mà chỉ là một hình thái cải trang của giá trị hay giá cả sức lao động"1.
Như vậy, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân nhìn bề ngoài như rất sòng phẳng song kỳ thực nó đã che dấu một phần lao động thặng dư mà nhà tư bản cướp không của công nhân, do giá cả sức lao động (biểu hiện qua tiền công) thường nhỏ/thấp hơn giá trị sức lao động bởi luôn có nạn thất nghiệp. Sức lao động là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động và là một phạm trù của sản xuất, yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trước khi thực hiện quá trình lao động sản xuất. Sức lao động là hàng hoá, cũng như mọi hàng hoá khác, nên tiền công là phạm trù của trao đổi, nó đòi hỏi phải ngang với giá cả các tư liệu sinh hoạt cần thiết nhằm tái sản xuất sức lao động. Sức lao động là một yếu tố của quá trình sản xuất cần phải bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền công cần phải được thực hiện thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, dựa trên hao phí lao động, hiệu 1 C.Ănghen: Tuyển tập, tập 2, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962, tr.
9 z quả lao động của người lao động. Do đó, tiền công là một phạm trù của phân phối. Sức lao động cần phải được tái sản xuất thông qua việc sử dụng các tư liệu sinh hoạt cần thiết, thông qua quỹ tiêu dùng cá nhân và do đó tiền công là một phạm trù của tiêu dùng. Theo từ điển giải nghĩa Kinh tế - kinh doanh (Anh – Việt), NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 1996, các khái niệm tiền lương, tiền công, giá cả sức lao động và thu nhập từ công ăn việc làm là những khái niệm đồng nghĩa (Wages), gọi chung là giá cả sức lao động, một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất.
Tuy nhiên, khái niệm tiền lương thường được dùng để trả cho lao động là công chức, viên chức khu vực hành chính sự nghiệp, còn khái niệm tiền công là khoản tiền trả cho lao động trong khu vực làm công ăn lương (có quan hệ lao động) gắn với thị trường lao động. Tiền lương và tiền công trong kinh tế thị trường liên quan đến quan hệ lao động (labour relation) hay hẹp hơn là quan hệ công nghiệp (industrial relation), quan hệ chủ - thợ. Nói một cách khác, tiền lương và tiền công thuộc quan hệ lao động (hay quan hệ công nghiệp), giữa một bên là người sử dụng lao động (chủ) và một bên là người lao động (thợ) trên thị trường lao động. Theo Einkommen, tiền lương và tiền công được coi là sự trả công cho việc làm đã được thực hiện.
Tức là khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công sau khi người lao động đã thực hiện một công việc nào đó mà người chủ thuê. Theo khái niệm này, tiền lương, tiền công chỉ giới hạn trong quan hệ thuê mướn lao động (có quan hệ lao động), theo nghĩa rộng hoặc trong quan hệ làm công ăn lương (quan hệ chủ - thợ), theo nghĩa hẹp. Theo David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbusch, tiền lương, tiền công trả cho người lao động trong kinh tế thị trường (thị trường lao động) phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động, bao gồm 2 phần: tiền công tối thiểu và tiền công kinh tế. Tiền công tối thiểu của yếu tố lao động được dùng làm 10 z một việc nào đó là tiền trả tối thiểu cần thiết để thu hút yếu tố lao động vào làm công việc đó.
Còn tiền công kinh tế là tiền trả thêm cho yếu tố lao động, thêm vào tiền công tối thiểu để thu hút lao động cung ứng sự phục vụ của mình khi sử dụng làm công việc đó. Tiền công tối thiểu trả cho người lao động khi đường cung lao động là đường nằm ở trạng thái cân bằng với đường cầu lao động, mọi người lao động đều chấp nhận mức tiền công tối thiểu này. Nhưng nếu đường cung lao động không nằm ngang, mà là đường cung dốc lên, tức cầu lao động đòi hỏi cung lao động ở trình độ cao hơn, cung trở nên khan hiếm hơn, thì người lao động phải trả thêm tiền công cao hơn cộng vào tiền công tối thiểu, đó chính là tiền công kinh tế. Như vậy, tiền công kinh tế phát sinh mỗi khi đường cung của yếu tố lao động không nằm ngang, lúc này tiền công phải trả cao hơn vì cầu dẫn suất cao hơn để thu hút lao động vào làm công việc đó.
Mặc dù tiền lương, tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động, nhưng mức tiền lương, tiền công phải dựa trên giá trị lao động và có xu hướng là phải trả đúng giá trị lao động. Đó là những quan niệm rất cơ bản về tiền lương, tiền công trong kinh tế thị trường và phản ánh quan hệ cá nhân giữa người chủ sử dụng lao động và người lao động. Theo Durkhein, nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp cho rằng trong xã hội công nghiệp hiện đại tiền lương, tiền công còn được coi như là một quan hệ kinh tế - xã hội. ủng hộ quan niệm này, các nhà kinh tế thị trường xã hội cho rằng tiền lương, tiền công là kết quả của các bên thỏa thuận thường có tác dụng như một giá tối thiểu nằm bên trên mức cân bằng của trật tự thị trường lao động.
Như vậy, trên thị trường lao động, tiền lương, tiền công không được ấn định bằng tương tác tự do giữa cung và cầu, mà là thông qua thỏa thuận tiền lương tiêu chuẩn giữa giới thợ (công đoàn) và giới chủ sử dụng lao động. Từ các quan niệm trên có thể khái quát bản chất của tiền lương, tiền công trong kinh tế thị trường gồm 3 trụ cột sau: 11 z - Tiền lương, tiền công là giá cả lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người chủ sử dụng lao động trả cho người lao động làm thuê. - Tiền lương, tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả thấp hơn mức tiền lương, tiền công tối thiểu cần thiết. - Tiền lương, tiền công hình thành thông qua cơ chế thỏa thuận về tiền lương tiêu chuẩn (tối thiểu) giữa giới thợ và giới chủ sử dụng lao động.2 Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp quan trọng trong nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần hiện nay.
Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng sức lao động trả cho người bán sức lao động. Tiền lương thực tế, biểu hiện qua số lượng hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ mà họ mua được thông qua tiền lương danh nghĩa của họ. Do đó, tiền lương thực tế không những liên quan đến tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến động của giá cả hàng hoá và dịch vụ. Mối quan hệ giữa tiền lương thực tế, tiền lương danh nghĩa với giá cả hàng hoá và các công việc phục vụ có thể biểu thị qua công thức sau đây: I TCDN I TCTT = I GC Trong đó: I TCTT - Chỉ số tiền lương thực tế I TCDN - Chỉ số tiền lương danh nghĩa I GC - Chỉ số giá cả Qua công thức trên ta thấy chỉ số tiền lương thực tế thay đổi tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả.3 Tiền lương tối thiểu 12 z Trong nền kinh tế thị trường, do tiền lương bị chi phối bởi quy luật cung-cầu lao động, việc tìm kiếm các biện pháp để bảo đảm mức tiền lương thoả đáng cho người lao động đã từ lâu là mối quan tâm của Chính phủ các nước.
Năm 1919, trong hiến chương thành lập của Tổ chức Lao động quốc tế đã khuyến cáo “Bảo đảm mức tiền lương đủ sống cho người lao động” là một trong những nội dung nhằm hoàn thiện các điều kiện lao động, an sinh xã hội và thúc đẩy hoà bình. Công ước 131 về tiền lương tối thiểu do Tổ chức lao động quốc tế ban hành năm 1970 và khuyến nghị 135 kèm theo đã xác định “bảo đảm cho những người làm công ăn lương một sự đảm bảo xã hội cần thiết dưới dạng mức tiền lương tối thiểu đủ sống”. Hay nói cách khác, tiền lương tối thiểu là mức tiền lương duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người lao động. Ở Việt Nam, điều 56 Bộ Luật Lao động chỉ rõ: “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác”.
Như vậy, tiền lương tối thiểu (hay mức lương tối thiểu) là số lượng tiền mà Nhà nước quy định để trả công cho lao động giản đơn nhất trong xã hội trong điều kiện lao động bình thường.