lời mở đầu, kết luận đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chƣơng 4.
Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của thành phố Hà Nội 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI 1. Tổng quan tài liệu Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài giữ vai trò quan trọng trong nguồn vốn đầu tƣ của các nƣớc trên thế giới. Đối với các quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam, nhu cầu vốn cho phát triển rất lớn trong khi nguồn vốn trong nƣớc khá hạn hẹp thì nguồn vốn FDI lại càng có tầm quan trọng đặc biệt. Lƣợng vốn FDI thu hút đƣợc ở mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào môi trƣờng đầu tƣ của quốc gia đó.
Đến lƣợt mình, môi trƣờng đầu tƣ quốc gia có hấp dẫn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài hay không lại phụ thuộc vào việc hoạch định, triển khai và điều chỉnh chính sách thu hút FDI của chính phủ nƣớc chủ nhà. Với tầm quan trọng nhƣ vậy nên chính sách đối với FDI của nƣớc tiếp nhận vốn đầu tƣ đã trở thành đối tƣợng quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc, của các chính phủ, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế,. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về FDI nói chung và chính sách thu hút FDI nói riêng đã đƣợc công bố. Các nghiên cứu về FDI nói chung cùng với các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút FDI hoặc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc đối với nguồn vốn FDI hoặc doanh nghiệp FDI ở Việt Nam và ở một địa phƣơng cụ thể nói riêng đã đƣợc một số đề án, luận án, luận văn, các ấn phẩm, tạp chí.
trong và ngoài nƣớc đề cập ở các mức độ khác nhau, từ trực tiếp và toàn diện đến gián tiếp và ở một vài khía cạnh. Cụ thể: + Các nghiên cứu ngoài nước: Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu Michael Mortimore et.al (2006), Foreign Investment in Latin America and the Caribean, UN ECLAC, các chính phủ phải đối mặt với hai lựa chọn chính sách căn bản đối với FDI: một là, không làm gì cả-cách tiếp cận bị động trong hoạt động thu hút FDI; hai là, 5 can thiệp tích cực nhằm thu đƣợc lợi ích tối đa từ quá trình đầu tƣ. Các chính sách bị động trong lựa chọn thứ nhất, dựa trên lợi thế so sánh tĩnh, hay trên điều kiện kinh tế vĩ mô có sẵn. Trong trƣờng hợp cực đoan, chính phủ chỉ giới hạn vai trò của mình ở việc xác lập thể chế pháp lý và các thủ tục hành chính để điều tiết FDI và kiềm chế không ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định của các hãng.
Chiến lƣợc bị động này có thể là đủ để thu hút FDI mà động lực chủ yếu bắt nguồn từ đặc điểm nội tại của nền kinh tế của nƣớc chủ nhà (tài nguyên thiên nhiên, thị trƣờng nội địa hoặc thị trƣờng của nƣớc láng giềng,. Trong trƣờng hợp này, thành tích của chính sách thu hút FDI chủ yếu đƣợc đo bằng lƣợng vốn FDI. Tuy nhiên, theo các tác giả, xu hƣớng toàn cầu hiện nay là sự chuyển dịch sang khung khổ chính sách ngày càng phức tạp hơn, theo đó không chỉ lƣợng vốn đổ vào quốc gia là quan trọng mà quan trọng hơn là dạng thức đầu tƣ, hay chất lƣợng của nó, xét theo sự đóng góp của FDI và sự nhất quán của nó với mục tiêu phát triển kinh tế của nƣớc chủ nhà. Các tác giả nhấn mạnh, mặc dù hiện nay có rất nhiều chiến lƣợc thu hút FDI khác nhau đƣợc các nƣớc triển khai, nhƣng các nƣớc thành công nhất trong thu hút FDI dạng thức này và khai thác tốt nhất lợi ích của FDI chính là các nƣớc đã thực hiện chính sách thu hút FDI một cách chủ động và có mục tiêu [43].
Các tác giả cho rằng, với chính sách thu hút FDI tích cực các nƣớc đang phát triển có thể thu hẹp dần khoảng cách với các nƣớc phát triển. Hai nƣớc đƣợc đƣa ra xem xét nhƣ ví dụ điển hình là Singapore và Malaixia. Nghiên cứu của Nick J.Freeman (2002) về “Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” và nghiên cứu của Kenechi Ohno (2003) về “Chính sách trọn gói nhằm thu hút FDI vào Việt Nam”. Các nghiên cứu này đã phân tích, so sánh những điểm yếu, hạn chế trong nội dung và phƣơng pháp hoạch định chính sách nói chung và thu hút FDI nói riêng của Việt Nam so với các 6 nƣớc láng giềng nhƣ: Thái Lan, Malaysia,….
và đƣa ra các khuyến nghị đối với Việt Nam để thu hút FDI đƣợc tốt hơn [14]. Nghiên cứu của Norman Brown (2004) “Con đường dài tiến tới cải cách: phân tích sửa đổi chính sách FDI ở Việt Nam”. Nghiên cứu này cũng đã đánh giá khá kỹ những thay đổi trong chính sách FDI và chỉ ra rằng còn rất nhiều quy định của luật pháp, chính sách về thu hút FDI cần phải thay đổi cho phù hợp với quy luật vận động của nền kinh tế [5]. Tại Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thƣơng mại và Phát triển, Báo cáo về chính sách đầu tư của Việt Nam (2008) cũng đã phân tích xu thế và vai trò của FDI tại Việt Nam trong 20 năm qua, qua đó đánh giá thực trạng chính sách FDI tại Việt Nam nhằm đƣa ra các khuyến nghị giúp cải thiện chính sách, môi trƣờng cho thu hút FDI tại Việt Nam.
+ Các nghiên cứu trong nước: Nghiên cứu của tác giả Phùng Xuân Nhạ (2006) về “Các hình thức FDI ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn”. Nghiên cứu này đã phân tích khá chi tiết các căn cứ lựa chọn các hình thức FDI của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và nƣớc chủ nhà, tìm ra những điểm hợp lý và những mặt chƣa phù hợp, hạn chế trong chính sách qui định các hình thức FDI ở Việt Nam trong gần 20 năm qua. Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã chứng minh đƣợc vai trò quyết định của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong việc lựa chọn các hình thức FDI chứ không phải là nƣớc chủ nhà. Vì vậy cần phải thay đổi tƣ duy, quan điểm cho phù hợp với thực tế và phải điều chỉnh chính sách của nƣớc chủ nhà [33].
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Quyền (2007) “Các giải pháp tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Hà Tây” và Luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Tịnh (2003) “FDI tại Hà Nội (cũ) - Thực trạng và giải pháp”. Cả hai luận văn trên mới chỉ tập trung vào hai địa phƣơng trƣớc mở rộng; về 7 mặt đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu, tập trung vào một số khía cạnh cụ thể của quản lý nhà nƣớc đối với FDI [20]. Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Hoàng Xuân Hải (2006): “Kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đang phát triển Châu Á và khả năng vận dụng vào Việt Nam”. Luận án tập trung làm rõ việc thu hút và sử dụng FDI của các nƣớc đang phát triển tại châu Á, các kinh nghiệm thu hút và sử dụng FDI của các nƣớc đang phát triển nhƣ Singapore, Thai Lan… và đƣa ra một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng với Việt Nam [12].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hùng (2002) về “Hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” và nghiên cứu của tác giả Tào Hữu Phùng (2003) về “Hoàn thiện môi trường và khuyến khích FDI của Việt Nam”; nghiên cứu của tác giả Phạm Mạnh Dũng (2004) về “Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam - những tồn tại và giải pháp về pháp lý”. Các nghiên cứu trên nhằm lý giải và so sánh những điểm tƣơng đồng, khác biệt, hấp dẫn, thông thoáng,… giữa luật đầu tƣ nƣớc ngoài của Việt Nam so với Luật đầu tƣ nƣớc ngoài của các nƣớc trong khu vực [13,19,11]. Qua các dữ liệu trên có thể thấy đã có khá nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc bàn về các khía cạnh liên quan đến FDI nói chung, quản lý nhà nƣớc, chính sách đối với FDI nói riêng tại Việt Nam. Nhƣng các nghiên cứu xuất phát từ nhiều thời điểm lịch sử, khác nhau về tầm nhìn, mục đích, khía cạnh….Bên cạnh đó, vẫn chƣa có công trình nghiên cứu về chính sách thu hút FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội một cách toàn diện, đặc biệt là sau khi Hà Nội đƣợc mở rộng.
Luận văn này tiếp tục bổ sung, phát triển các kết quả nghiên cứu đã có nhƣng tập trung phân tích một cách có hệ thống, toàn diện về chính sách thu hút FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đặc biệt là sau khi 8 mở rộng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu sắc. Đây chính là những điểm mới của Đề tài. Cơ sở lý luận về chính sách thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) đƣợc đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng nhƣ các tổ chức trong và ngoài nƣớc theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF), Đầu Tƣ Trực Tiếp Nƣớc Ngoài là một công cuộc đầu tƣ ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó ngƣời đầu tƣ trực tiếp (direct investor) đạt đƣợc một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới đƣợc công nhận là FDI [60]. UNCTAD trƣớc khi đƣa ra định nghĩa về FDI đã phân loại hoạt động đầu tƣ bao gồm đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp, theo đó “Một đầu tư được coi là đầu tư trực tiếp khi phần sở hữu của Nhà đầu tư đủ cho phép kiểm soát công ty, còn khi đầu tư chỉ cho nhà đầu tư được hưởng khoản thu nhập không cho quyền kiểm soát công ty, nói chung là đầu tư gián tiếp”.