Chính sách tài chính và bảo hiểm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Ch­¬ng i c¬ së lý luën vò tù do ho¸ th­¬ng m¹i vµ b¶o hé s¶n xuêt trong n­íc, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Kinh Tế Đối Ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2008

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DNVVN VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DNVVN

1.1. DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.2. Các đặc điểm của DNVVN

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN DNVVN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ TRONG VIỆC THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DNVVN Ở VIỆT NAM

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách tài chính và bảo hiểm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chính sách tài chính và bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam. Các chính sách này không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý rủi ro. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, việc hiểu rõ về các chính sách này là cần thiết để doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa các cơ hội phát triển.

1.1. Khái niệm chính sách tài chính và bảo hiểm

Chính sách tài chính bao gồm các biện pháp của Chính phủ nhằm điều tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bảo hiểm doanh nghiệp là công cụ giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Cả hai đều có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của DNVVN.

1.2. Vai trò của chính sách tài chính đối với DNVVN

Chính sách tài chính giúp DNVVN tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, các chính sách này còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí và tối ưu hóa lợi nhuận.

II. Thách thức trong việc áp dụng chính sách tài chính cho DNVVN

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, DNVVN vẫn gặp phải nhiều thách thức trong việc áp dụng. Các vấn đề như thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận vốn và rào cản pháp lý là những trở ngại lớn. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả của chính sách.

2.1. Thiếu thông tin và kiến thức về chính sách

Nhiều DNVVN không nắm rõ các chính sách tài chính và bảo hiểm, dẫn đến việc không tận dụng được các cơ hội hỗ trợ. Việc nâng cao nhận thức về chính sách là cần thiết.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận vốn

Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng do yêu cầu về tài sản đảm bảo và hồ sơ phức tạp. Điều này hạn chế khả năng phát triển của họ.

III. Phương pháp cải thiện chính sách tài chính cho DNVVN

Để nâng cao hiệu quả của chính sách tài chính, cần có những phương pháp cải thiện cụ thể. Việc đơn giản hóa thủ tục vay vốn, tăng cường hỗ trợ thông tin và đào tạo cho doanh nghiệp là những giải pháp khả thi.

3.1. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn

Giảm bớt các yêu cầu về hồ sơ và tài sản đảm bảo sẽ giúp DNVVN dễ dàng tiếp cận vốn hơn. Điều này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngân hàng và cơ quan quản lý.

3.2. Tăng cường hỗ trợ thông tin và đào tạo

Cung cấp thông tin đầy đủ về các chính sách tài chính và bảo hiểm sẽ giúp DNVVN hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đào tạo về quản lý tài chính cũng rất cần thiết.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chính sách tài chính cho DNVVN

Nhiều DNVVN đã áp dụng thành công các chính sách tài chính và bảo hiểm, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh. Các mô hình thành công này cần được nhân rộng để tạo ra tác động tích cực hơn cho nền kinh tế.

4.1. Mô hình doanh nghiệp thành công nhờ chính sách tài chính

Một số DNVVN đã sử dụng hiệu quả các chính sách tài chính để mở rộng quy mô và tăng trưởng doanh thu. Họ đã áp dụng các biện pháp quản lý tài chính thông minh để tối ưu hóa lợi nhuận.

4.2. Kết quả nghiên cứu về tác động của chính sách

Nghiên cứu cho thấy rằng các DNVVN được hỗ trợ bởi chính sách tài chính có tỷ lệ phát triển cao hơn so với những doanh nghiệp không được hỗ trợ. Điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của chính sách trong việc thúc đẩy sự phát triển.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chính sách tài chính cho DNVVN

Chính sách tài chính và bảo hiểm cho DNVVN tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Cần tiếp tục cải cách để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp. Tương lai, chính sách này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

5.1. Định hướng phát triển chính sách tài chính

Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của DNVVN. Việc này sẽ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững hơn.

5.2. Tương lai của DNVVN trong nền kinh tế

DNVVN sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Chính sách tài chính và bảo hiểm sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của họ.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu vμ danh mục tμi liệu tham khảo, nội dung chính của đề tμi đ−ợc thể hiện ở 3 ch−ơng: Chƣơng I: Lý luận chung về DNVVN và chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của DNVVN. Chƣơng II: Nghiên cứu việc sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ của Việt Nam trong việc định hướng và khuyến khích phát triển DNVVN và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Chƣơng III: Các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc thúc đẩy sự phát triển của DNVVN ở Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Th.S Nguyễn Quang Hiệp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ DNVVN VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DNVVN I. DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN Ngày nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cụm danh từ “Doanh nghiệp vừa và nhỏ” (DNVVN) đã được dùng tương đối phổ biến. Vậy thế nào là một DNVVN ? Câu trả lời này tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất khác nhau trong các nước khác nhau, điểm giống nhau duy nhất trong quan niệm về DNVVN là khái niệm này dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp được xếp loại theo những tiêu chí nhất định thường là dựa vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp.

Đứng trên giác độ quy mô người ta hay nói đến số lượng lao động thường xuyên có trên thực tế hoặc tổng số vốn đầu tư thể hiện tổng giá trị tài sản hoặc doanh thu trong năm của 1 doanh nghiệp. Các nước trên thế giới đã dựa vào 2 chỉ tiêu này để xác định quy mô của loại hình DNVVN nhưng ở các mức độ định lượng rất khác nhau. Việc xác định quy mô DNVVN trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển mỗi nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Nhìn chung, trên thế giới, việc xác định 1 doanh nghiệp có phải là DNVVN hay không tuỳ thuộc vào 2 nhóm tiêu thức phổ biến là: Tiêu chí định tính và Tiêu chí định lượng Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên nhóm tiêu thức cơ bản nh− bộ máy quản lý, cơ chế ra quyết định, các nghiệp vụ tμi chính, hình thức tổ chức doanh nghiệp, trình độ chuyên môn hoá… Các tiêu thức nμy có −u thế lμ phản ánh đúng bản chất của vấn đề nh−ng th−ờng khó xác định trên thực tế.

Do đó, chúng chỉ đ−ợc dùng lμm cơ sở để tham khảo mμ ít đ−ợc sử dụng để phân loại. Nhóm tiêu chí định l−ợng: Được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp doanh nghiệp. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp.

Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định. Bản thân trong một nước thì các tiêu thức để xác định DNVVN cũng là không cố định mà được thay đổi tuỳ theo sự phát triển của từng thời kỳ nhất định. Ta có thể tham khảo các tiêu thức phân loại DNVVN ở các nước khác nhau trên thế giới qua bảng 1 dưới đây: Bảng 1: Tiêu thức xác định DNVVN của một số nƣớc trên thế giới Nƣớc Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu 1. Mỹ Tất cả các 0 - 500 Không quan trọng Không ngành quan trọng 2.

Nhật Bản Chế tác 1 - 300 300 triệu Yên Bán buôn 1 - 100 0 - 100 triệu Yên Bán lẻ 1 - 50 0 - 50 triệu Yên Dịch vụ 1 - 100 1 - 100 triệu Yên 3. EU Doanh nghiệp < 10 Không quan trọng cực nhỏ Doanh nghiệp < 50 7 triệu Ecu nhỏ Doanh nghiệp < 250 27 triệu vừa Ecu 4.Hàn Quốc Chế tác 0 - 300 20 - 80 tỉ Won 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp K.mỏ và vận 0 - 300 Không quan trọng Không tải quan trọng Xây dựng 0 - 200 TM và DV 0 - 20 5. Đài Loan Chế tác 0 - 200 80 triệu NTS Không quan trọng Nông lâm ngư 0 - 50 Không quan trọng 100 triệu và dịch vụ NTS 6. Thái Lan Sản xuất nhỏ Không quan 0 - 50 triệu Baht trọng Sản xuất vừa 50 - 200 Bán buôn nhỏ 0 - 50 Bán buôn vừa 50 - 100 Bán lẻ nhỏ 0 - 30 Bán lẻ vừa 30 - 60 7.

Philippin Doanh nghiệp 10 - 99 1,5 - 15 triệu Pêxô Không nhỏ quan trọng Doanh nghiệp 100 - 199 15 - 60 triệu Pêxô vừa Doanh nghiệp Không quan 0 - 20. Inđônêxia nhỏ trọng 100.000US D Doanh nghiệp 20. Nga Doanh nghiệp 1 - 249 Không quan trọng Không nhỏ quan trọng Doanh nghiệp 249 - 999 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp vừa 10. Trung Doanh nghiệp 50 - 100 Quốc nhỏ Doanh nghiệp 101 - 500 vừa Nguồn: (1) Hồ sơ các DNVVN của APEC, 1998, (2) Định nghĩa DNVVN của các nước đang chuyển đổi UN_EC, 1999; (3) Tổng quan các DNVVN của OECD, 2000 Ở nước ta, trước năm 1998, chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNVVN.

Do đó, mỗi tổ chức đưa ra một quan niệm khác nhau về DNVVN nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ hoạt động của tổ chức mình. Ngân hàng Công thương Việt Nam đưa ra tiêu chuẩn DNVVN là những doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người. Theo tiêu chuẩn này thì DNVVN có thể tồn tại dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào. Thành phố Hồ Chí Minh lại xác định những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng và lao động thường xuyên có trên 100 người là những doanh nghiệp có quy mô vừa.

Những doanh nghiệp dưới mức tiêu chuẩn đó là các doanh nghiệp nhỏ. Tổ chức hỗ trợ UNIDO tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNVVN dựa trên mục tiêu hỗ trợ của họ, đó là doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 đến 5 tỷ đồng. Tháng 6 năm 1998, công văn số 681/CP-KTN của Văn phòng Chính phủ được ban hành là văn bản pháp lý đầu tiên của n−ớc ta chính thức đề cập đến DNNVV. Theo đó, DNNVV trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp phải có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người; trong ngành thương mại dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ đồng và số lao động dưới 200 người.

Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp và số lao động dưới 50 người trong công nghiệp và dưới 30 người trong thương mại dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ. Tiêu chí này dựa trên 2 căn cứ là tổng số vốn và số lao động. Các tiêu thức về DNVVN trong công văn này đã trở thành một căn cứ pháp lý quan trọng đầu tiên để chính thức xác định các đối tượng là DNVVN Việt Nam. Theo các tiêu thức này, các doanh nghiệp không tính đến hình thức sở hữu là các doanh nghiệp quốc doanh hay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Ngày 23 tháng 11 năm 2001 Chính phủ đã ban hành nghị định 90/2001/NĐ- CP về trợ giúp phát triển DNVVN. Trong nghị định này, Chính phủ đã đưa ra một định nghĩa chung về DNVVN để các ban ngành, địa phương có căn cứ để xác định đối tượng được Chính phủ trợ giúp phát triển. Theo định nghĩa này, “DNVVN lμ những đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hμnh, có mức vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hμng năm không quá 300 ng−ời”. Theo nghị định này, đối tượng được xác định là DNVVN bao gồm: - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước. - Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã. - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Như vậy, theo định nghĩa này tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn hai tiêu thức lao động và vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNVVN Việt Nam.

Theo cách phân loại này, số DNVVN chiếm khoảng 96% trong tổng số các doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam (theo tiêu chí lao động) và chiếm 88% (theo tiêu chí vốn đăng ký kinh doanh). Các tiêu chí phân loại này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc dùng 2 tiêu chí lao động bình quân hàng năm và vốn đăng ký kinh doanh còn quá chung chung. Lao động bình quân ở đây cần làm rõ là lao động thường xuyên hay bao gồm cả lao động thời vụ gồm những lao động thực tế của doanh nghiệp hay chỉ gồm những lao động ký hợp đồng và có đóng bảo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kho¸ luËn tèt nghiÖp hiểm ? Theo tác giả, nếu sử dụng chỉ tiêu lao động nên dựa vào số lao động làm việc thường xuyên hay số lao động làm việc từ 1 năm trở lên.

Yếu tố vốn đăng ký cũng cần xem xét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ