Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ. Chương 2: Hiện trạng chính sách phát triển thông tin KH&CN của Cục Thông tin KH&CN quốc gia nói riêng và của Việt Nam nói chung. Chương 3: Đề xuất chính sách phát triển thông tin KH&CN trong xu thế hội nhập quốc tế. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển thông tin KH&CN 1.
Chính sách Theo James E. Anderson đưa ra định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm” [10, tr. Có thể thấy đây là một định nghĩa hết sức cô đọng, có tầm khái quát cao về chính sách. Tuy nhiên, định nghĩa này mới nhấn mạnh vào hành động có mục tiêu, vào chủ thể với sự quan tâm thiết thực của họ.
Định nghĩa nêu trên không chỉ ra một cách rõ ràng khách thể của chính sách là ai, ưu tiên, ưu đãi của chính sách là gì, đặc biệt chưa cụ thể hoá nội hàm của chính sách bao gồm những gì. Yêu cầu và mức độ thể chế hoá chính sách không được đề cập tới trong cách định định nghĩa của James E. Về phần mình, PGS. TS Vũ Cao Đàm đưa ra định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội; - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như: nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học,.); - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó; - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,.
Tác giả Luận văn hoàn toàn đồng ý với cách định nghĩa và nội hàm của khái niệm “chính sách” nêu trên của PGS. TS Vũ Cao Đàm. Cách định nghĩa này vừa đưa ra được nội hàm đầy đủ của khái niệm chính sách vừa gợi mở, hướng dẫn cho chủ thể phải làm gì, tiếp cận ra sao, nội dung và thể thức cần phải có khi xây dựng và ban hành một chính sách cụ thể. Điều đó cũng nhấn mạnh đến đối tượng, khách thể của chính sách cần được quan tâm ngay trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách cụ thể.
Khái niệm phát triển Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của sự phát triển. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định.
Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó, cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật. Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, “phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật”. Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung. Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.
Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn [16, tr. 97] 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số khái niệm liên quan đến thông tin KH&CN Do mục tiêu chính của Luận văn là đề xuất chính sách phát triển thông tin KH&CN nên tác giả Luận văn không đi sâu khảo sát, trình bày về học thuật các khái niệm cơ bản có liên quan như thông tin, nguồn tin, tiềm lực thông tin, v.
mà tập trung đề cập các khái niệm quan trọng đã được chấp nhận một cách chính tắc, được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở nước ta từ khi có Luật Khoa học và công nghệ năm 2013. Theo Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, khái niệm “Khoa học” và khái niệm “Công nghệ” được hiểu như sau: “Khoa học” là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. “Công nghệ” là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [17, tr. Theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/02/2014 về hoạt động thông tin KH&CN [6, tr.
1-2], một số khái niệm quan trọng có liên quan đến thông tin khoa học và công nghệ được xác định như sau: Thông tin khoa học và công nghệ: “Thông tin khoa học và công nghệ” là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Như đã nêu ở trên, nội hàm của khái niệm này được hiểu trong văn cảnh của một tài liệu quy phạm pháp luật hiện hành (Nghị định số 11/2014/NĐ-CP), xong nội hàm đó cũng phù hợp với nội hàm khái niệm “thông tin khoa học và công nghệ” về mặt học thuật. Đó là : thông tin khoa học là thông tin logic, phản ánh một cách trung thực, khách quan các sự vật, hiện tượng, các quy luật trong tự nhiên, xã hội và tư duy và được sử dụng trong thực tiễn lịch sử cụ thể. Nội hàm của khái niệm thông tin nêu trên được cập nhật với sự bổ sung thông tin được tạo ra trong hoạt động sáng tạo, không chỉ đóng khung trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ như trước đây.
Thông tin khoa học và công nghệ ngày nay, ngoài việc phản ánh các kết quả của hoạt động nghiên cứu, phát triển, nó còn phải phản ánh kết 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả và các vấn đề của đổi mới sáng tạo đang diễn ra sôi động trên thực tế, nhất là tại các doanh nghiệp, nơi sự liên kết, tích hợp giữa tri thức khoa học, thành tưu công nghệ và năng lực sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng và việc làm cho xã hội. Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ: “Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ” là hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin khoa học và công nghệ, các hoạt động khác có liên quan. Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ: “Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ” là tập hợp thông tin về tiềm lực và kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quốc gia, được xây dựng, duy trì và phát triển nhằm cung cấp dữ liệu và thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về khoa học và công nghệ. Nguồn tin khoa học và công nghệ: “Nguồn tin KH&CN được hiểu là “các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học, thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ KH&CN, luận án khoa học, tài liệu thiết kế, kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, trang thông tin điện tử, tài liệu thống kê KH&CN, tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác”.
Nguồn tin KH&CN là toàn bộ thông tin KH&CN được ghi lại, trình bày hoặc thể hiện dưới bất cứ dạng thức nào và trên bất cứ loại vật mang tin nào (ở dạng truyền thống và dạng điện tử) mà tổ chức, quốc gia có được. Theo xuất xứ, nguồn tin KH&CN có thể là nội sinh, trong nước (do tổ chức hoặc quốc gia đó tạo ra, lưu giữ, phổ biến), hoặc là ngoại sinh, nước ngoài (thu thập được qua các kênh khác nhau (mua, trao đổi, biếu tặng,.) hoặc truy cập được một cách ổn định, lâu dài (thông qua mua quyền truy cập hoặc có thể truy cập được do bên có thông tin tạo điều kiện truy cập lâu dài). Nguồn tin KH&CN rất phong phú, đa dạng, nếu phân loại theo vật mang tin, nguồn tin KH&CN chia thành hai loại: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - “Nguồn tin KH&CN trên giấy”, còn gọi là nguồn tin KH&CN truyền thống, nguồn tin KH&CN dạng in, bao gồm các loại hình nguồn tin KH&CN được ghi trên các vật mang tin xuất hiện lâu đời như: tre, nứa, giấy, phim ảnh, băng từ.và khi truy cập và khai thác không cần sự trợ giúp của các thiết bị tin học và viễn thông.