phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách ƣu đãi ngƣời có công Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách ƣu đãi đối với có công trên địa bàn huyện Phac Ngum, thủ đô Viêng Chăn, nƣớc CHDCND Lào trong thời gian tới. Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp tăng cƣờng việc thực hiện chính sách đối với ngƣời có công tại huyện Phac Ngum, thủ đô Viêng Chăn, nƣớc CHDCND Lào. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG 1. Một số vấn đề chung về ngƣời có công và chính sách ƣu đãi ngƣời có công 1.1 Khái niệm người có công Theo nghĩa hẹp: ngƣời có công là những cá nhân không phân biệt tín ngƣỡng, tôn giáo, dân tộc, nam nữ đã có những đóng góp và cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trƣớc cách mạng năm 1954, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đƣợc các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Theo nghĩa rộng: Ngƣời có công là những ngƣời đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp của đất nƣớc, họ không chỉ là những ngƣời có công với cách mạng mà còn gồm cả những ngƣời đã có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp xây dựng đất nƣớc. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều kiện đối với từng đối tƣợng là ngƣời có công mà nhà nƣớc CHDCND Lào đã quy định thì có thể hiểu ngƣời có công bao gồm những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có ngƣời hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dân tộc. Họ là những ngƣời có thành tích hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc đƣợc cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc và cũng có thể là trong các cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, thể thao…Theo cách hiểu này thì ngƣời có công không chỉ là 8 ngƣời có công với Cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc mà còn là các đối tƣợng khác nhƣ anh hùng lao động, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân….
Theo Nghị định số 272/CP ngày 16/9/2015 về thực hiện chính sách đối với ngƣời có công trong sự nghiệp phục vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thì NCC trong sự nghiệp phục vụ cho sự nghiệp cách dân tộc dân chủ là : “những ngƣời còn sống và đã hy sinh có cống hiến xƣơng máu, công sức, trí tuệ trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ, là ngƣời trung thành tuyệt đối đối với Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân” [51]. Căn cứ pháp luật về chính phủ nƣớc CHDCND Lào số 02/QH ngày 06/5/2003, nghị định này để đặt ra để quy định nguyên tắc quy chế và phƣơng thức trong tổ chức thực hiện chính sách của Đảng- Nhà nƣớc với hình thức ƣu đãi về vật chất hoặc tiền mặt từ ngân sách nhà nƣớc và sự đóng góp của tƣ nhân, cá nhân và các tổ chức bày tỏ công ơn đối với ngƣời có công trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ cho phù hợp với khả năng và thực tế về kinh tế xã hội của đất nƣớc Lào. Để xã hội có sự đóng góp trong việc ghi nhớ công ơn và để thống nhất tổ chức thực hiện trong phạm vi cả nƣớc Theo Nghị định trên thì đối tƣợng NCC gồm: 1. Cán bộ lão thành trong cách mạng trƣớc năm 1954, có độ tuổi cách mạng 10 năm liên tiếp trở lên; 2.
Anh hùng dân tộc và chiến sỹ thi đua 3. Ngƣời hy sinh trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ chƣa đƣợc hƣởng chế độ chính sách nào trƣớc đó 4. Thƣơng binh loại đặc biệt, ngƣời chăm sóc ngƣời thƣơng binh loại 1 – 4 trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ; 9 Phân loại thƣơng binh Tỷ lệ mất sức lao động Thƣơng binh đặc biệt Mất sức lao động từ 81 -100% Thƣơng binh loại 1 Mất sức lao động 71 - 80 % Thƣơng binh loại 2 Mất sức lao động 61 - 70% Thƣơng binh loại 3 Mất sức lao động 51 – 60 % Thƣơng binh loại 4 Mất sức lao động 41-50% 5. Cán bộ, quân đội công an hoạt động trong cách mạng trƣớc ngày 31- 12-1974 chƣa đƣợc hƣởng chế độ chính sách nào trƣớc đó 6.
Dân quân đã đƣợc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ đến ngày 31/12/1974 có độ tuổi hoạt động từ 10 năm liên tiếp trở lên; 7. Gia đình có con cái hy sinh tất cả trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ mà bố mẹ còn sống nhƣng không có ngƣời chăm sóc. Nghị định này không chỉ quy định đối tƣợng đƣợc hƣởng ƣu đãi bao gồm những ngƣời có công kể trên mà còn cả thân nhân của họ. Đó là những ngƣời có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dƣỡng với ngƣời có công.
Dù đây không phải là đối tƣợng ngƣời có công theo đúng nghĩa nhƣng sự ƣu đãi của nhà nƣớc và xã hội đối với thân nhân của ngƣời có công là hết sức cần thiết bởi họ là ngƣời chịu thiệt thòi về tinh thần, tình cảm và khó khăn do sự cống hiến, hy sinh của ngƣời thân cho đất nƣớc, dân tộc. Việc ƣu đãi hợp lý đối với thân nhân ngƣời có công cũng chủ yếu trên cơ sở những đóng góp của ngƣời có công và nhu cầu của chính họ. Vì vậy, ƣu đãi thân nhân ngƣời có công suy cho cùng là ƣu đãi ngƣời có công. Đó là đạo lý, truyền thống “uống nƣớc nhớ nguồn” của dân tộc, đồng thời cũng nhằm hƣớng đến an sinh xã hội nói chung.
Có thể thấy nhận thức về ngƣời có công đã có những bƣớc thay đổi và nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Ngƣời có công không chỉ là ngƣời có công với cách mạng. Đó là những ngƣời có đóng góp trong các cuộc chiến thời kỳ 10 trƣớc năm 1954, trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đƣợc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ngƣời có công còn là những ngƣời đã có đóng góp to lớn ngay trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nƣớc trên mọi lĩnh vực khoa học – công nghệ, văn học, nghệ thuật, những anh hùng lao động, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân đều đƣợc ghi nhận là ngƣời có công.
Cách hiểu mới về ngƣời có công khẳng định một bƣớc tiến toàn diện và sâu sắc hơn đối với sự ghi nhận công lao của các đối tƣợng đã cống hiến vì sự nghiệp của dân tộc. Đây là một cách nhìn mang tính nhân văn sâu sắc. Đối tƣợng ngƣời có công tại nƣớc CHDCND Lào là đối tƣợng đƣợc hƣởng chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc, đƣợc điều chỉnh bởi Nghị định số 272/CP ngày 16/9/2015 về thực hiện chính sách đối với ngƣời có công trong sự nghiệp phục vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Như vậy, người có công được hiểu là là những người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tuổi tác đã cống hiến sức lực, tài năng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được công nhận theo quy định của pháp luật.
Chính sách đối với người có công 1. Khái niệm chính sách đối với người có công Theo Thuật ngữ Lao động Xã hội thì: Chính sách người có công là những quy định chung của Nhà nước bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với người có công [6, tr73]. Nghiên cứu về chính sác đối với ngƣời có công ở Việt Nam, đã có quan điểm cho rằng: Chính sách đối với ngƣời có công là đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc căn cứ vào nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ, dựa vào sự phát triển nền kinh tế - xã hội, nhằm mục tiêu ghi nhận công lao, sự 11 đóng góp, sự hy sinh cao cả của những ngƣời có công, tạo mọi điều kiện, khả năng, đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với ngƣời có công [15, tr11]. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng, Nhà nƣớc Lào đã rất chú trọng đến ƣu đãi xã hội thông qua việc ban hành nhiều văn bản, chính sách quy định việc giúp đỡ thƣơng binh, bệnh binh, giải quyết những nhu cầu bức xúc khi chạy chữa vết thƣơng, bệnh tật và các nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày.
Bên cạnh đó, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để thƣơng binh, bệnh binh về làng có cuộc sống ổn định. Đến nay, ƣu đãi xã hội trong đó chủ yếu áp dụng đối với ngƣời có công đã trở thành một nhiệm vụ kinh tế - xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nƣớc Lào, nhiều phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nƣớc nhờ nguồn” đƣợc cộng đồng xã hội phát động và phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nƣớc với nhiều thành quả hết sức ấn tƣợng, đáng khích lệ, tôn vinh. Ƣu đãi ngƣời có công (với cách mạng) là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng, là sự phản ánh trách nhiệm của nhà nƣớc, là sự đãi ngộ, ƣu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những công dân có nhiều hy sinh, cống hiến với đất nƣớc nhằm tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống. Chính sách đối với ngƣời có công là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội.
Trong hệ thống bảo đảm xã hội hiện nay gồm có ƣu đãi xã hội đối với ngƣời có công, bảo hiểm xã hội đối với ngƣời lao động, cứu trợ xã hội đối với những ngƣời gặp rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo. Đây là sự bảo vệ của nhà nƣớc không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn là sự thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nƣớc, của cộng đồng đối với ngƣời có công.