MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngay từ thời dựng nƣớc, Việt Nam đã là một quốc gia đa dân tộc. Trong quá trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thƣơng lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhƣng chung một giàn”. Cái “giàn” mà ông cha ta nói đến chính là Tổ quốc Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, cũng đã đề ra những nguyên tắc và định hƣớng chiến lƣợc về chính sách dân tộc ở Việt Nam. Có thể khẳng định chinh sách dân tộc của Đảng ta luôn đƣợc quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn đƣợc bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nƣớc. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến chính sách dân tộc.
Trong Hiến pháp, cũng nhƣ các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng đều khẳng định chính sách đối với đồng bào các DTTS, trong đó, chính sách về giáo dục-đào tạo là một chính sách quan trọng để nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các DTTS trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đều có các quy định để đảm bảo quyền đƣợc giáo dục của đồng bào các DTTS. Quy định việc tạo điều kiện cho ngƣời DTTS đƣợc học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt. Tạo điều kiện cho học sinh DTTS đƣợc hƣởng chính sách ƣu đãi.
Nhà nƣớc thành lập các trƣờng Phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, dự bị đại học cho con em DTTS. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006, quy định việc cử 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuyển ngƣời DTTS vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đƣợc hƣởng học bổng, tiền hỗ trợ ăn, ở, đi lại, mua sách vở, đồ dùng học tập; Nghị định 82/2010/NĐ-TTg ngày 15-7-2010 quy định về dạy và học tiếng nói, chữ viết DTTS; Quyết định 2123/2010/QĐ-TTg ngày 22-11-2010 về đảm bảo quyền đƣợc giáo dục cho các DTTS rất ít ngƣời (có số dân dƣới 10. Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều Thông tƣ liên tịch nhằm hỗ trợ về tài chính cho các học sinh tại các trƣờng nội trú và trƣờng dự bị đại học dân tộc. Theo đó, học sinh thuộc đối tƣợng này đƣợc miễn học phí, đƣợc hỗ trợ chi phí sinh hoạt, ăn ở, đi lại.
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc đối với đồng bào DTTS không chỉ thể hiện qua các Nghị định, chƣơng trình, dự án, mà còn bằng chiến lƣợc cơ bản lâu dài, nhƣ Chiến lƣợc công tác dân tộc đến năm 2020 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt năm 2013, nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ vùng đồng bào DTTS. Tiếp đó, ngày 14-3-2016, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 402/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức ngƣời DTTS trong tình hình mới. Một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm đƣợc đặt ra là công tác giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức ngƣời DTTS. Đối với nƣớc ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cƣơng, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời đây cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà Đảng ta đã đề ra.
Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nh vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lƣợc phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lƣợc, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nƣớc ta. Điều này tiếp tục đƣợc khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nƣớc ta xây dựng đƣờng lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc. Xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nƣớc trong cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn. Tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia đa dân tộc. Sự phát triển không đồng đều làm cho đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc chênh lệch nhau, gây nên sự mặc cảm, tự ti, làm giảm yếu tố động lực phát triển ở các dân tộc.
Điều này gây bất lợi trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là khi mối quan hệ dân tộc trở nên phức tạp và dễ vƣợt ra khỏi phạm vi dân tộc trở thành quan hệ quốc gia và quốc tế khi bị các thế lực thù địch lợi dụng. Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, từng bƣớc cải thiện và nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân, thu h p dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc là một mục tiêu lớn đặt ra để đảm bảo an sinh xã hội. Căn cứ vào tình hình kinh tế - văn hóa xã hội của các vùng dân tộc thiểu số. Đảng và nhà nƣớc đã đề ra những chính sách khuyến khích và nâng cao chất lƣợng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa.
Tuy nhiên chất lƣợng giáo dục tại đây vẫn không cao, có nhiều cách để lý giải vấn đề này nhƣ kinh tế khó 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khăn không có điều kiện cho con em đi học, điều kiện tự nhiên không cho phép, cơ sở vật chất không đáp ứng đủ yêu cầu của học sinh. Học sinh không muốn học, học xong cũng không biết làm gì. Học sinh dân tộc thiểu số là nhóm đối tƣợng đặc biệt quan trọng của ngành CTXH. Các chính sách giáo dục đã hƣớng trọng tâm vào việc hỗ trợ, trợ giúp các em bằng nhiều hình thức khác nhau từ hỗ trợ trực tiếp đến hỗ trợ gián tiếp thông qua gia đình, nhà trƣờng và cộng đồng nhằm đảm bảo thực hiện quyền trẻ em và đáp ứng nhu cầu của trẻ để trẻ có thể phát triển toàn diện.
Đã có không ít những chính sách hỗ trợ giáo dục đã đƣợc xây dựng và đi vào hoạt động. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này chƣa thực sự đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tiễn và đã bộc lộ những hạn chế nhất định nhƣ: Có những điều khoản trong chính sách chƣa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phƣơng. Điều này không chỉ ảnh hƣởng tới hiệu quả của chính sách mà còn ảnh hƣởng tới sự phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. CTXH là một trong những ngành khoa học có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp những cá nhân, nhóm, cộng đồng khó khăn vƣợt qua khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập xã hội.
Một trong những đối tƣợng đƣợc CTXH quan tâm là học sinh, trong đó đƣợc nhấn mạnh đến nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đối với mỗi nhân viên CTXH, việc nắm vững hệ thống chính sách, các dịch vụ xã hội hỗ trợ học sinh là điều vô cùng quan trọng để can thiệp, trợ giúp đối với thân chủ. Hiện nay, trong lĩnh vực CTXH chƣa có nghiên cứu tổng thể nào về chính sách giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Hơn nữa thông tin, nghiên cứu liên quan đến vấn đề này còn nhiều hạn chế.
Từ những quan điểm trên em đã chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ giáo d c đ i v i học sinh dân tộc thiểu s - Nghiên cứu trường hợp Trường phổ thông Dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La” 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Trên thế gi i Ở Hoa kỳ,trong chƣơng trình Thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/2008. Về việc tóm lƣợc Giáo dục Hoa Kỳ, đã cho thấy chính sách giáo dục dân tộc của Hoa Kỳ đối với các dân tộc di cƣ tới Hoa Kỳ rất đƣợc chú trọng.
Những chính sách này đƣợc ban hành và thực hiện trong thời gian dài, luôn cập nhật và bổ sung. Đến hiện nay đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn không chỉđối với hệ thống giáo Hoa Kỳ mà còn có ý nghĩa đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.Ở trong các trƣờng học đang dần xóa bỏ vấn đề phân biệt chủng tộc, các học sinh đều đƣợc hƣởng những đãi ngộ nhƣ nhau. Tại Nhật Bản, Th. Ito Miho, nghiên cứu sinh Đại Học Tokyo, Nhật bản đã chỉ ra rằng Nhật không phải là đất nƣớc đơn nguyên, Nhật Bản cũng là nƣớc đa văn hóa, đa dân tộc, nhƣng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc Nhật đã có những chính sách quán triệt về vấn đề giáo dục ngôn ngữ nhƣ bãi bỏ các tiếng dân tộc và phƣơng ngữ chỉ sử dụng Quốc ngữ.
Hiện nay do chính sách nhập cƣ của Nhật, có khoảng hơn 18.000 trẻ em không biết Tiếng Nhật (báo cáo năm 2000) và Bộ giáo dục chỉ nhằm đáp ứng dạy tiếng Nhật cho họ chứ không dạy tiếng m đẻ của họ tại nhà trƣờng. Chính sách giáo dục dân tộc ở Trung Quốc. Giáo dục là cơ sở của tiến bộ khoa học k thuật.