Phần mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: “NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI TRUNG ĐÔNG”, trình bày khái quát về khu vực Trung Đông và sự can dự của Mỹ vào khu vực từ đầu thập niên 1990 đến năm 2008. CHƢƠNG 2: “CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG OBAMA ĐỐI VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG”, phân tích về chính sách (mục tiêu, chủ trƣơng và biện pháp triển khai) của Chính quyền Obama CHƢƠNG 3: “ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG”, đƣa ra những đánh giá về kết quả triển khai chính sách, tác động và dự báo về chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông sau năm 2012. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA ĐỐI VỚI TRUNG ĐÔNG 1. Tình hình Trung Đông và sự can dự của Mỹ vào khu vực từ đầu thập niên 1990 đến năm 2008 1.
Khái quát về khu vực Trung Đông Do tính chất phức tạp và đang dạng về địa lý, chính trị, văn hóa và tôn giáo nên hiện nay trên thế giới không có một quan điểm thuần nhất về khu vực Trung Đông. Đây là vùng đất giao thoa giữa 3 châu lục Á - Âu - Phi và cũng là xác định một vùng văn hóa, vì thế nó không có biên giới chính xác. Trái lại, đang tồn tại một số cách phân loại khác nhau về Trung Đông, tùy theo những đặc điểm, yêu cầu và mục đích của ngƣời phân loại. Theo cách phân loại dựa trên tính chất và đặc điểm địa lý, khu vực Trung Đông (Trung Cận Đông) là hai cách gọi dùng để chỉ cùng một khu vực.
Vùng “Trung Cận Đông” có tính ƣớc lệ hơn, đƣợc ngƣời châu Âu dùng để chỉ những thuộc địa của Đế chế Ottoman, gần nhƣ hƣớng hoàn toàn về Địa Trung Hải. Đó là một thuật ngữ cổ điển “levant” (phƣơng Đông - chỉ hƣớng mặt trời mọc). Thuật ngữ này trong một thời kỳ dài đƣợc dùng để chỉ khu vực nằm ở phía Đông Địa Trung Hải. Còn “Trung Đông” là cách gọi trƣớc đây do ngƣời Anh tạo ra, kể từ đầu thế kỷ XX.
Nó đƣợc sử dụng chủ yếu từ năm 1945, để chỉ khu vực trải rộng từ Libya tới Afghanistan. Dựa theo tính chất văn hóa, khu vực Trung Đông bao gồm phía đông của thế giới Ả-rập, từ phía Đông của Libya và “thung lũng bất tử” của sông Nil trải rộng tới tận phía Đông của Afghanistan. Theo cách gọi này, khu vực Trung Đông bao gồm các quốc gia Arab ở Tây Á và 3 nƣớc châu Phi là Libya, Ai Cập và Sudan. Israel không thuộc thế giới Arab; Pakistan thuộc về thế giới Ấn Độ.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở thế giới phƣơng Tây, khu vực Trung Đông thƣờng đƣợc coi là một vùng cộng đồng đa số các quốc gia hồi giáo Ả-rập. Tuy nhiên, khu vực Trung Đông lại bao gồm nhiều nền văn hóa và các nhóm dân tộc riêng biệt nhƣ Arab, syria, Azerbajian, Berber, Chaldean, Druze, Hy Lạp, Do Thái, Kurd, Maronites, Ba Tƣ và Thổ. Đa số các định nghĩa của phƣơng Tây (cả trong những cuốn sách tham khảo và trong sử dụng thông thƣờng) về khu vực Trung Đông là “các quốc gia ở Tây Nam Á, từ Iran tới Ai Cập”. Một cách nhìn nhận khác của ngƣời châu Á, thì khu vực Trung Đông (không tính Bắc Phi) đƣợc gọi là khu vực Tây Á, để phân biệt với khu vực Trung Á và Nam Á.
Một định nghĩa đƣợc sử dụng rộng rãi khác về khu vực Trung Đông là của công nghiệp hàng không, đƣợc duy trì trong tổ chức tiêu chuẩn của Hiệp hội Vận chuyển Hàng không Quốc tế. Theo định nghĩa này (tới đầu năm 2006), Trung Đông là khu vực bao gồm 16 quốc gia và vùng lãnh thổ là Bahrain, Ai Cập, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Palestine, Oman, Qatar, Arab Saudi, Sudan, Syria, Các Tiểu Vƣơng quốc Ả-rập Thống nhất (UAE) và Yemen. Theo phân loại dựa trên cơ sở địa - chính trị - kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB), khu vực Trung Đông bao gồm 6 nƣớc trong Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh - GCC (Arab Saudi, Bahrain, Qatar, UAE, Kuwait, và Oman) và các nƣớc Jordan, Iran, Iraq, Israel, Libya, Malta, Palestine, Syria, Yemen. Trong khuôn khổ tài liệu này, với trọng tâm là nghiên cứu về an ninh - chính trị, nên khu vực Trung Đông đƣợc tính bao gồm 14 quốc gia và vùng lãnh thổ là thuộc khu vực Tây Á: Arab Saudi, Bahrain, Qatar, Các Tiểu Vƣơng quốc Ả-rập Thống nhất (UAE), Kuwait, Jordan, Iran, Iraq, Israel, Libya, Palestine, Syria, Yemen và Oman.
Khu vực Trung Đông có tổng diện tích khoảng 5,5 triệu km2, chiếm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng 1,15% diện tích bề mặt trái đất. Đây là khu vực khô cằn, chủ yếu là các hoang mạc và sa mạc cát lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Trung Đông là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu mỏ và khí đốt. Tính đến giữa năm 2012, dân số khu vực Trung Đông khoảng 229 triệu ngƣời với tỷ lệ gia tăng dân số khoảng 1,9%/năm.
Các quốc gia khu vực Trung Đông đều thuộc vào một trong các mô hình thể chế nhà nƣớc nhƣ Cộng hòa Hồi giáo, Quân chủ Lập hiến hoặc Quân chủ Hồi giáo Chuyên chế. Ngoại trừ Israel, tại nhiều nƣớc Trung Đông, sự phát triển của quốc gia đều bị hạn chế bởi thể chế chính trị, nạn tham nhũng, các khoản ngân sách khổng lồ dành cho quốc phòng, cũng nhƣ sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ. So với các khu vực khác, thể chế chính trị tại Trung Đông bị đánh giá là kém hiệu quả, bởi nhiều nguyên nhân nhƣ tôn giáo, xung đột, chiến tranh triền miên, nguồn lợi dầu mỏ, sự can dự của các quốc gia bên ngoài… Các nƣớc Trung Đông đều có những cơ chế và cơ quan lập pháp, nhƣng trên thực tế, các Nghị viện (Quốc hội) có rất ít thực quyền. Quyền lực tập trung chủ yếu vào các cơ quan hành pháp, gồm Nhà vua (Quốc vƣơng), Tổng thống (hoặc Thủ tƣớng) và các Bộ trƣởng.
Trung Đông là khu vực giàu có về tài nguyên, nhất là dầu mỏ - tài nguyên đặc biệt quan trọng, luôn chiếm vị trí chi phối nền kinh tế khu vực và đóng vai trò lớn trong nền kinh tế thế giới. Trên bản đồ dầu mỏ thế giới, Trung Đông đƣợc mệnh danh là “rốn dầu thế giới”, khi chiếm tới hơn 53,8% tổng trữ lƣợng dầu mỏ đƣợc phát hiện trên toàn cầu, tƣơng đƣơng khoảng 796,8 tỷ thùng (nhiều số liệu cho rằng, trữ lƣợng dầu mỏ của Trung Đông còn lên tới trên 66% tổng trữ lƣợng toàn cầu), trong đó các nƣớc có trữ lƣợng dầu mỏ lớn đã đƣợc phát hiện nhƣ Arab Saudi (khoảng 18%, tƣơng đƣơng 165,5 tỷ thùng); Iran (10,4%, tƣơng đƣơng 155 tỷ thùng); Iraq (9,5%, tƣơng đƣơng 141 tỷ thùng)… Cùng với dầu mỏ, nguồn khí đốt của Trung Đông cũng chiếm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một vị trí quan trọng trên bản đồ chính trị và kinh tế thế giới. Theo số liệu tính toán của Tổ chức các nƣớc Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), tính đến cuối năm 2011, trữ lƣợng khí đốt đƣợc phát hiện của khu vực Trung Đông vào khoảng 79. Các quốc gia có trữ lƣợng khí đốt lớn là Iran (khoảng 33.620 tỷ m3), Qatar (khoảng 25.100 tỷ m3), Arab Saudi (khoảng 8.200 tỷ m3)1 Trung Đông cũng là khu vực sản xuất tới 32,6% sản lƣợng dầu thô của thế giới mỗi ngày (tƣơng đƣơng khoảng 23 triệu thùng/ngày).
Trong năm 2011, mỗi ngày Trung Đông xuất khẩu đến 19,7 triệu thùng dầu (đa số là dầu thô) và chiếm tới 36,2% tổng lƣợng dầu xuất khẩu của toàn thế giới. Trên thị trƣờng khí đốt tự nhiên, Trung Đông cũng là khu vực đứng thứ 3 về sản xuất khí đốt tự nhiên. Năm 2011, Trung Đông sản xuất đƣợc khoảng 515 tỷ m3 khí đốt, chiếm 15,4% tổng sản xuất khí đốt tự nhiên của thế giới.2 Về địa kinh tế, Trung Đông đƣợc mệnh danh là “rốn dầu của thế giới”, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo nguồn cung năng lƣợng cho nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ nói tiêng. Theo Báo cáo hàng năm của Tổ chức Dầu lửa Thế giới (OPEC; 2012), đến năm 2011, trữ lƣợng dầu lửa đã thăm dò của toàn khu vực Trung Đông chiếm tới 54% tổng trữ lƣợng toàn cầu; trữ lƣợng khí đốt chiếm gần 41% tổng trữ lƣợng toàn cầu; ngành công nghiệp dầu mỏ của khu vực sản xuất 33% tổng sản lƣợng dầu mỏ và 16% tổng sản lƣợng khí đốt toàn thế giới.
Sản lƣợng dầu khí của Trung Đông chủ yếu dành cho xuất khẩu (gần 90% sản lƣợng dầu và 26% sản lƣợng khí). Trong khi đó, Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về tiêu thụ dầu (năm 2011, tiêu thụ 19,2 triệu thùng dầu/ngày, chiếm 22% tổng sản lƣợng tiêu thụ thế giới), trong đó Mỹ phải nhập khẩu tới trên 56% (năm 2011 nhập khẩu 1 OPEC, Annual Statistical Bulletin 2012, http://www.org/opec_web/en/publications/202.htm 2 OPEC, Annual Statistical Bulletin 2012, Tlđd. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10,6 triệu thùng dầu/ngày). Lƣợng dầu nhập khẩu từ Trung Đông của Mỹ chiếm từ 15 - 20% tổng sản lƣợng nhập khẩu của Mỹ.
Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, giới chức Mỹ đã khẳng định, nguồn dầu lửa của khu vực Trung Đông là món quà vô giá của lịch sử thế giới, có tầm quan trọng quyết định đến “sức mạnh chiến lƣợc” của Mỹ. Tình hình khu vực Trung Đông từ năm 1990 đến năm 2008 Từ những năm 1990 trở lại đây, kinh tế của các nƣớc khu vực Trung Đông đạt đƣợc một số tiến bộ. Trong giai đoạn 1990 - 2000, tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc khu vực đạt mức trên 3%, trong đó một số quốc gia có mức tăng trƣởng cao nhƣ Lebanon (7,2%), Jordan (5,1%), Iran (4,2%)… Từ năm 2001 - 2008, các quốc gia Trung Đông luôn nằm trong danh sách các nƣớc có tốc độ tăng trƣởng nhanh trên thế giới, với tốc độ tăng trƣởng luôn đạt mức xấp xỉ 6%/năm. Sự tăng trƣởng nhanh này, trƣớc hết là nhờ vào việc giá dầu thế giới liên tục tăng.
Một nguyên nhân khác là nhiều nƣớc đã và đang thực hiện cải cách, chuyển đổi kinh tế sang cơ chế thị trƣờng, mở rộng trao đổi thƣơng mại thế giới, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dầu mỏ. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà phân tích, vài chục năm qua, do bị kìm hãm bởi các chế độ chuyên chế (trung bình, mỗi vị vua Arab nắm giữ quyền hành 20 năm) nên thế giới Arab Hồi giáo đã bị thụt lùi rất rõ.