CHƯƠNG 1. CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TO TÁC DONG DEN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐÓI NGOẠI CỦA MỸ ĐÓI VỚI ĐÔNG NAM Á DƯỚI THỜI TONG THONG JOE BIDEN 1. Khái niệm Chính sách đối ngoại Cho đến hiện tại, vẫn chưa có một định nghĩa độc lập và thống nhất dành cho “chính sách đối ngoại”, dẫn đến xuất hiện nhiều định nghĩa dành theo các trường phái hay quan niệm của những nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng đều có sự chong chéo lên nhau tạo nên sự tương đông về mặt chủ thê, nội dung và mục tiêu sử dụng của khái niệm.
Thứ nhất, chính sách đối ngoại trong quan niệm của những nhà nghiên cứu nước ngoài. Chính sách đổi ngoại theo James Rosenau, nhà khoa học người Mỹ cho rằng chính sách đối ngoại là “sự cô gắng của một xã hội quéc gia nhằm kiểm soát môi trường bên ngoài bằng cách duy trì những tình hình thuận lợi và thay đổi tình hình bất lợi" hay theo Lion Noel, nhà nghiên cứu người Pháp, chính sách đôi ngoại là “nghệ thuật chỉ đạo quan hệ của một quốc gia với các quốc gia khác "Ô và theo Kal J. Holshi thì chính sách đối ngoại là những hành động đã được đặt các mục tiêu kỹ lưỡng để chính phủ cam kết, thực hiện đề duy trì hoặc thay đổi những đặc điểm mong muốn hoặc không mong muốn trong môi trường quốc tếế. Một số học giả nghiên cứu khác cũng đưa ra quan niệm tương tự như: Theo Marijke Breuning thì chính sách đối ngoại la “tông thé các chính sách và tương tác với môi trường bên ngoài biên giới quốc"”; Chính sách đối ngoại thường được định nghĩa là “hành vi có ý thức của một quốc gia đối với môi trường bên ngoài của họ ””§ hoặc là “chiến lược hoặc cách tiếp cận được lựa chọn bởi chính pha mot quốc gia nhằm đạt được mục đích trong quan hệ với các thực thể bên ngoài ”?.
Thứ hai, chính sách đối ngoai theo quan điểm cửa các nhà nghiên cứu Việt Nam được trình bày trong các tài liệu. Theo Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt - Anh - Pháp (Học viện Quan hệ Quốc tế, 2002) “chính sách đối ngoại là “chủ trường, chiến lược, kế hoạch và các biện pháp thực liện cụ thé do một quốc gia dé ra liên quan đến các moi * Dương Văn Quảng, Nguyễn Thị Thin. Ban về vấn dé phan tích chỉnh sách doi ngoại. Tap chí Nghiên cứu quốc tế, số 483), tháng 12/2010.
Les afaires e’trangeres: Politique et Diplomatie. Why Nations Realign: Foreign Policy Restructuring in the Postwar World, London: George Allen and Unwill. Foreign poliey analysis. New York: Palgrave.
Intemational Politics: A Framework for Analysis, New Jersey: Prentice Hall. The history and evolution of foreign policy analysis wong Steve Smith, Amelia Hadfield và Tim Dunne chủ biên: Foreign Policy: Theoriesm, Actors, Cases. Oxtord and New York: Oxford University Press. l4 quan hệ quốc té mà quốc gia đó thiết lập với các quốc gia và các chủ thể khác nhằm tăng cường và bao vệ lợi ích quốc gia của minh,” Theo sách Giáo trình chính trị quốc tế của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chính sách đối ngoại được định nghĩa là “tổng thể những chiến lược, sách lược, chủ trương, quyết định và những biện pháp do nhà nước hoạch định và thực thi trong quá trình tham gia tích cực, có hiệu quả vào đời sống quốc tế trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích quốc gia, phù hợp với xu thé phát triển của tình hình thể giới và luật pháp quốc tế.
Chính sách đổi ngoại là sự tiếp tue chính sách đổi nội, xuất phát từ chế độ kinh té, chính trị, xã hội của một quốc gia phục vụ chính sách đối nội”? Theo Giáo trình phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế (dành cho hệ đại học và sau đại học), “chính sách đối ngoại là sự tiếp nỗi của chính sách đối nội ” khi lợi ích dan tộc. an ninh quốc gia và sự thịnh vượng kinh tế được đặt lên hang dau; thông qua bằng nhiều phương pháp như hợp tác, cạnh tranh, xung đột hay thậm chí là chiến tranh. Do đó chính sách đối ngoại thường được hoạch định bởi bộ máy lãnh đạo cao cấp của quốc gia và thay đôi theo từng thời kỳ của bộ máy lãnh đạo. Đồng thời, yếu tổ địa - chính trị, sức mạnh quốc gia và tình hình quốc tế phải được xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra chính sách.
!; Giáo trình bồi đưỡng cán bộ đối ngoại nêu chính sách đối ngoại là “một bộ phận của chính sách quéc gia nói chung, chính sách liên quan đến quyết định lựa chọn hướng hành động và phương cách hành động để giải quyết một hoặc nhiều van dé nảy sinh trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Theo cách hiểu thông thường nhất, chính sách đối ngoại là sự phản ứng của mot nước doi với sự thay đổi của tình hình bên ngoài. các quốc gia phát cso phản ứng thích hợp để xử lý vấn đề theo hưởng tận dung tình hình có lot hoặc giảm thiểu tình hình bat loi". Thông qua tong hợp các quan điểm về chính sách đối ngoại, nhìn chung, mục tiêu định hướng ban đầu của chính sách đối ngoại là mở rộng tầm ảnh hưởng của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại còn được cấu thành bởi các yếu tố: lĩnh vực đối ngoại (đối ngoại Dang, đối ngoại Nhà nước, ngoại giao nhân dan), nội dung 19 Học viện Quan hé Quốc tế (2002).
Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt - Anh - Pháp. Hà Nội: Nhà xuất bản Thể giới. !! Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An. Giáo trình Quan hệ chính trí quốc rẻ.
Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia. Giáo rink phicong pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế (dành cho hệ đại học và sau đại hoe). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
© Nguyễn Mạnh Cường (chú biên). Giáo trình Quan hệ chính trị quốc rể. Chính trị quốc gia. 15 đối ngoại (chủ trương, đường lỗi, chính sách, chiến lược, biện pháp, quan điểm), môi trường bên ngoài (bối cảnh quốc tế, tình hình khu vực), phương thức và nghệ thuật triển khai chính sách đối ngoại (đôi sách.
Do đó, “chinh sách đối ngoại” của một quốc gia không chỉ được xem như là chính sách riêng của các quốc gia này mà khi xem xét và nghiên cứu các chính sách đối ngoại cần phải xét trên nhiều góc độ. khía cạnh của chính sách. Trên nên tảng đó, chính sách đối ngoại cũng là một bộ phận của chính sách quốc gia (chính sách công!®). Trong mỗi chính sách đối ngoại đều thé hiện lợi ích quốc gia - đân tộc tối thượng, cho nên nó được thiết kế và soạn thảo bởi người đứng người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao hoặc tương đương, thông qua các quy trình ra quyết định cấp cao.
Trong đó việc thiết kế các chính sách nay được dựa trên các học thuyết nhất định! và vai trò cùng dấu ấn của người đứng đầu là vô cùng quan trọng. Quy luật này diễn ra ở tat cả các quốc gia, trong đó có cả Mỹ, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam A. Địa chính tri - địa chiến lược của khu vực Đông Nam A 1. Khái niệm địa chính trị - địa chiến lược 1.
Khái niệm địa - chính trị Địa chính trị là một lĩnh vực thiết yêu của đường lối phát triển quốc gia và đường lỗi quan hệ quốc tế. Khái niệm địa - chính trị (geopolitical) được đẻ cập lần đầu tiên bởi nhà khoa học chính trị Thụy Điền Rudolf Kjellen vào năm 1899!®, Đến nay, đã có rat nhiều cách tiếp cận va lý giải khác nhau về nó, sau đây 1a hai định nghĩa kinh điển của “dia chính trị” khi xem đây là một lĩnh vực khoa học năm giữa và thậm chí bao trùm lên lĩnh vực địa lý và chính trị.: Từ điền bách khoa Le Petit Larousse illustré của Pháp (2000, trang 473) nêu rằng “Địa chính trị nghiên cứu các mỗi quan hệ giữa các dit liệu địa lý với nên chính trị của các quốc gia ”?? và từ điện Bách khoa Britannica (2004, CD-Rom) định nghĩa địa chính trị là “sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến các mỗi quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế. Trong hoạch định chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tim cách chứng minh tam quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền liép cận các đường biên quan !4!+ Chính sách công là“chương trình hành động hưởng đích của chủ thé năm hoặc chi phố: quyền lực công công”; trích từ: Vũ Dương Huân. Về chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam.
! Xem thêm Phu lục |. !“ John Bellamy Foster. The New Geopolitics of Empire, Monthly Review, Vol. Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia (Sách tham khảo).Hà Nội: Nxb.
Chính trị quốc gia — Sự thật. l6 trong và quyên kiểm soát những khu vực đất liên có tam quan trọng chiến luge”. Men theo dong lịch sứ, khái niệm địa chính trị được phát triển và có sự thay đôi các yêu tô ở mỗi định nghĩa tiếp sau nó. Các định nghĩa vẻ địa chính trị như sau: Thứ nhất, định nghĩa khái niệm “địa chính trị” dựa trên dựa trên hai yếu tô chủ chốt là quyền lực và không gian (lãnh thổ, đất đai).
Trong thời kỳ cận hiện đại, theo Rudolf Kjellen (1864-1922), người đầu tiên đưa ra định nghĩa “dia chính tri” vào năm 189919 nêu rõ “dia chính trị là lý thuyết về quốc gi với tu cách là một cơ thể địa lý hoặc mot hiện tượng trong không gian, tức là với tt cách dat dai, lãnh thổ, khu vực hoặc đặc biệt nhất là một đất nước "22, Theo Karl Haushofer (1869-1946), vị tướng người Dức, bổ sung thêm các tiên trình chính trị vào định nghĩa và cho rằng là một bộ phận của địa lý học chính trị. Định nghĩa được nêu ring “Địa chính trị là một ngành khoa học quốc gia mới nghiên cứu về nhà nước. một học thuyết về quyết định luận không gian của các tiễn trình chính tri, dựa trên cơ sở rộng rãi của địa lý học, đặc bié là địa lý học chính trị” ?!. Đến thời kỳ hiện đại, vẫn tiếp tục dựa trên 2 yếu tổ nói trên: Theo Saul Bernard Cohen, tác gia người Anh (1964) đã định nghĩa “địa chính trị là khoa học nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa quyên lực chính trị quốc tế với khung cảnh địa ly"?