Chương 1. Đảng bộ huyện Lương Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2005 – 2014. Chương 2: Đảng bộ huyện Lương Sơn đẩy mạnh thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2010 – 2014. Một số nhận xét và kinh nghiệm.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hòa Bình và miền Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km, địa giới liền kề với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn (Hà Nội), Đại học quốc gia, làng văn hóa các dân tộc. Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ 105025’14” – 105041’25” Kinh độ Đông; 20036’30” – 20057’22”. Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía Nam của dãy núi Ba Vì (còn gọi là Viên Nam), nơi có một phần của vườn quốc gia Ba Vì. Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn, phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Đông và phía Bắc giáp các huyện của thủ đô Hà Nội (các huyện này trước ngày 1 tháng 8 năm 2008 thuộc tỉnh Hà Tây cũ) gồm: Mỹ Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì).
Về địa hình: Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp có độ cao tương đối nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc. Khí hậu: Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,30c.
Lượng mưa bình quân từ 1.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường. Nguồn nƣớc: Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã. Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km. Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu (bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện.
Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước [62]. Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt. Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp.
Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác: Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện. Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố rải rác toàn huyện. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm 49,68% diện tích tự nhiên.
Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý. Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh. Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện. Nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim. Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf. Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang Trổ, động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng [62]. Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể.
Những lợi thế về giao thông cùng tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên như: có nhiều núi đá vôi phục vụ ngành sản xuất vật liệu xây dựng, có 14.000 hecta đồi núi và đất đai màu mỡ để phát triển nông, lâm nghiệp. Huyện còn có điều kiện xây dựng các khu nghỉ dưỡng, phát triển du lịch…Hiện nay trên địa bàn huyện có rất nhiều dự án lớn như sân golf 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phượng Hoàng và Làng văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình (xã Lâm Sơn), khu du lịch sinh thái (xóm Mòng – thị trấn Lương Sơn)… Điều kiện kinh tế - xã hội Hành chính Từ thời Nguyễn trở về trước, Lương Sơn có tên gọi là huyện Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây có 7 tổng với 49 xã, thôn. Ngày 22/6/1886, Quyền kinh lược Bắc Kỳ ký nghị định cắt đất đai có đông đồng bào Mường, cư trú thuộc tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình, thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh Mường và tên gọi Lương Sơn chính thức có từ ngày 22/6/1886. Lúc đó gọi là Phủ Lương Sơn, bao gồm 6 tổng.
Đến ngày 21/3/1890 phủ Lương Sơn mới trở lại Đạo Mỹ Đức vừa được tái lập. Nhưng do vị trí địa lý và tầm quan trọng của Lương Sơn, ngày 18/3/1891 toàn quyền Đông Dương ra nghị định xóa bỏ lần thứ hai đạo Mỹ Đức trả lại phủ Lương Sơn cho tỉnh Hòa Bình và phủ Lương Sơn được đổi thành Châu Lương Sơn, gồm 5 tổng và 19 xã, bao gồm: tổng Bằng Lộ, Cư Yên, Thanh Nông, Kim Bôi, Tú Sơn. Châu Lương Sơn lúc đó có diện tích 926 km2, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường. Ngày 17/4/1959 căn cứ vào địa lý, tình hình cư dân và nhu cầu về xây dựng kinh tế, quốc phòng, thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 153 chia huyện Lương Sơn thành hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi.
Ngày 3/1/1971 huyện đã bàn giao 8 xã (Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương, Thanh Nông) có diện tích 4.559,44 ha và dân số 14.852 người về huyện Kim Bôi, giải thể xã Hùng Sơn và Thị trấn nông trường Cửu Long để thành lập thị trấn Lương Sơn theo quyết đinh của Hội đồng Bộ trưởng (Quyết định số 71/BT, số 13/BT), từ đây địa giới hành chính của huyện được ổn định gồm 17 xã và 1 thị trấn [1]. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Căn cứ Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày 29/5/2008 của Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Từ ngày 1/8/2008 huyện Lương Sơn bàn giao 4 xã thuộc vùng Bắc (Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân) về thành phố Hà Nội, huyện còn lại 13 xã và 1 thị trấn. Thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-Cp ngày 14/7/2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, huyện Lương Sơn được nhận thêm 7 xã của huyện Kim Bôi gồm các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương và chuyển xã Yên Quang về huyện Kỳ Sơn [64].
Diện tích, dân số và giáo dục Huyện Lương Sơn có diện tích tự nhiên là 37. Dân số toàn huyện là trên 97 nghìn người (số liệu năm 2014). Từ xa xưa Lương Sơn là địa bàn sinh sống của người Mường. Người Mường có mặt khắp các xã, chiếm trên 65% dân số toàn huyện.
Người Kinh sống xen lẫn với người Mường và chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, còn lại là người Dao và các dân tộc khác chiểm tỷ lệ nhỏ [32, tr 2]. Toàn huyện có hơn 24 trường mầm non, 46 trường tiểu học và trường trung học cơ sở, 4 trường phổ thông trung học và một trung tâm giáo dục thường xuyên (số liệu năm 2014). Trong đó có trên 30% giáo viên toàn huyện là người dân tộc thiểu số [32, tr 3]. Kinh tế Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 11,5%.
Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 23,1%; Công nghiệp, xây dựng chiếm 48,1%; Thương mại – dịch vụ chiếm 28,8%. Giá trị sản xuất đạt 7.678,3 tỷ đồng, trong đó, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt 1.547 tỷ đồng; công 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp – xây dựng đạt 4.250 tỷ đồng; thương mại – dịch vụ đạt 1. Thu nhập bình quân đầu người tăng khá. Theo số liệu thống kê, năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 18,2 triệu đồng/năm, năm 2014 đạt 36,6 triệu đồng/năm.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% (năm 2010) xuống còn 5,25% (năm 2014) [78, tr 4]. Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11/5/2012 của Tỉnh ủy Hòa Bình, huyện Lương Sơn sẽ phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái. Với mục tiêu tổng quát là huy động các nguồn lực, xây dựng vùng trung tâm huyện Lương Sơn thành đô thị loại IV vào năm 2020, tạo tiền đề để sớm trở thành thị xã Lương Sơn vào năm 2025.