PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Kinh tế - Xã Hội Việt Nam từng bước phát triển, người dân ngày càng mong muốn chất lượng cuộc sống được nâng cao và họ sẽ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm, để cùng chia sẽ rủi ro và dàn trải chi phí rủi ro với cộng đồng. Chính vì vậy ngày càng có nhiều người quan tâm hơn đến việc tham gia bảo hiểm. Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua, chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.
Sau hơn nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội đã có những bước phát triển đáng kể, thâm nhập sâu hơn vào đời sống của người dân, phát huy được tác dụng về những lợi ích kinh tế và xã hội. Theo báo cáo Quốc Hội năm 2017, tổng số người hưởng chế độ BHXH do nguồn ngân sách đảm bảo năm 2017 (ước thực hiện) là 1.932 người, giảm 1,5% so với năm 2016, số kinh phí chi là 44.896 tỷ đồng tăng 1,93% so với năm 2016. Và tính đến hết ngày 31/05/2018, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13,79 triệu người, bảo hiểm xã hội tự nguyện là 240. So với khoảng 35 triệu lao động khu vực phi chính thức, đối tượng chính của BHXH tự nguyện thì số người đang tham gia BHXH tự nguyện còn rất khiêm tốn.
Đáng nói là, trong số những người tham gia BHXH tự nguyện có đến 60% đã tham gia BHXH bắt buộc trước đó nên đóng tiếp để đủ thời gian hưởng hưu trí. Điều này đồng nghĩa với khoảng 98% lao động phi chính thức nằm ngoài lưới an sinh xã hội. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Bảo hiểm xã hội hiện nay còn rất nhiều bất cập, hạn chế. Người dân chưa thực sự mặn mà với việc tham gia bảo hiểm xã hội, hay nói cách khác là chưa nhận rõ những giá trị và quyền lợi thụ hưởng khi tham gia bảo hiểm xã hội.
Đa số các đối tượng tham gia bảo hiểm xã 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội chủ yếu là các nhóm đối tượng do các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức buộc phải tham gia và do Nhà nước hỗ trợ. Nếu so sánh giữa tỷ lệ người dân tham gia và không tham gia bảo hiểm xã hội, thì sự khác biệt dường như không đáng kể, xu hướng chung là nếu có điều kiện lựa chọn thường người ta sẽ tìm đến những gói bảo hiểm tư để tham gia. Trên thực tế, vẫn còn nhiều người dân chưa biết đến bảo hiểm xã hội tự nguyện và chưa nắm rõ thông tin về loại hình bảo hiểm này, những thủ tục hành chính đối với người dân vẫn còn khó khăn. Vẫn còn hàng nghìn người lao động thu nhập hiện tại ở mức thấp, không có lương hưu khi về già.
Vấn đề bất cập này gây áp lực lớn lên nền kinh tế đất nước và là gánh nặng đối với an sinh xã hội của nước ta. Vấn đề đặt ra là thực hiện mục tiêu chung của bảo hiểm xã hội, theo đúng lộ trình, những vướng mắc này cần phải sớm được tìm ra nguyên nhân để có những biện pháp khắc phục. Đã có rất nhiều ông trình nghiên cứu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện, tuy nhiên chỉ có một vài nghiên cứu nhỏ về chế độ tham gia bảo hiểm y tế, về thực trạng tham gia bảo hiểm và có rất ít nghiên cứu đi sâu vào chính sách tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người người Lao động. Vì vậy nghiên cứu về những chính sách tham gia bảo hiểm tự nguyện của người Lao động là một vấn đề cấp thiết và thực tiễn.
Từ nhận định trên tác giả chọn đề tài: “Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tại Huyện Đông Anh Thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Khi xét về mảng đề tài BHXHTN hay các đề tài liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, đây thực sự là một lĩnh vực quan trọng và thu hút nhiều các ngành khoa học khác nhau cùng tham gia nghiên cứu như: Y học, Xã hội học, Luật học, Kinh tế học, Chính trị học. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu và phân tích chuyên sâu đã được thực hiện bởi các nhà hoạch định chính sách, nhà tư vấn, nhà nghiên cứu độc lập và từ phía Nhà 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước và khối Phi chính phủ.
Mảng đề tài này nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu bởi lẽ: Chính sách an sinh xã hội nói chung và BHXHTN nói riêng có tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới chất lượng sống của người dân trong khu vực phi chính thức, đến ổn định và trật tự của xã hội. Những nghiên cứu của Việt Nam về thế giới Dựa trên những đặc điểm về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phong tục và tập quán mà mỗi nước trên thế giới đều có những chủ trương, chính sách hay hoạt động thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội khác nhau. Vì vậy, tuỳ theo từng thời kỳ nhất định, mà các nước cũng sẽ có những chuyển đổi về hệ thống các chế độ thuộc chính sách bảo hiểm xã hội. Dưới đây là những nét khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới: Trích dẫn theo Nguyễn Văn Định, (2008), “An sinh xã hội”.
Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những mô hình BHXH trên thế giới và cho rằng Liên Bang Đức là đất nước được ví như là cái nôi của bảo hiểm xã hội, là cội nguồn của sự hình thành và phát triển chính sách bảo hiểm xã hội sớm nhất trên thế giới. Tại Đức, hệ thống các chế độ của bảo hiểm xã hội được hình thành từ rất lâu đời, cụ thể là được thiết lập dưới thời của Thủ tướng Otto von Bismarck vào năm 1850 ngay truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Ngày 15/06/1883, nước Đức đã ban hành Luật bảo hiểm y tế cho công nhân, Luật bảo hiểm tai nạn vào ngày 06/07/1884, Luật về bảo hểm hưu trí và tàn tật ngày 22/06/1989 và Luật giới thiệu việc làm và bảo hiểm thất nghiệp ban hành vào ngày 16/07/1927 cho toàn bộ người dân, người lao động sinh sống tại đất nước. Trải qua các thời kỳ lịch sự, nước Đức không ngừng tiến bộ trong việc sửa đổi và hoàn chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội.
Đặc biệt, hệ thống các chế độ của bảo hiểm xã hội tại Cộng hoà Liên Bang Đức hiện nay được chia ra thành 5 trụ cột chính như sau: Bảo hiểm thất nghiệp; Bảo hiểm y tế theo luật định; Bảo hiểm chăm sóc điều dưỡng theo luật định; Bảo hiểm hưu trí theo luật định; Bảo hiểm tai nạn theo luật định. Và sau đó mô hình này đã nhanh chóng lan sang các nước Châu Âu. [26] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Nguyễn Văn Chiểu (2013), “Bảo hiểm xã hội Thụy Điển và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội số 11. Báo cáo đề cập tới sự hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội Thụy Điển, đó là một hình mẫu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội (ASXH).
Ở đó có sự kết hợp giữa phát triển kinh tế thị trường với đảm bảo ASXH dựa trên các trụ cột là: giáo dục miễn phí; chăm sóc sức khỏe gia đình và trẻ em; bảo hiểm rộng rãi cho những người lao động. Mô hình ASXH của Thụy Điển còn được coi là “Nhà nước phúc lợi xã hội” và "thân thiện với việc làm với các chế độ: Hưu trí; Tai nạn lao động; Thất nghiệp. Chính nhờ những cải cách mạnh mẽ này mà Thụy Điển vẫn được đánh giá là mô hình phát triển hiệu quả với đội ngũ lao động có trình độ cao, hệ thống an sinh xã hội toàn diện, công bằng và không có sự loại trừ với tất cả mọi người. Tuy nhiên, tại Việt Nam do tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội còn tấp, nền kinh tế vẫn còn hiều hạn chế, đặc biệt ngân sách nhà nước chưa đủ để chi trả cho quỹ bảo hiểm.
Vì vậy, BHXHVN vẫn cần đưa ra những chính sách phù hợp đặc biệt đối với người lao động. Tác giả và nhóm tác giả đã đưa ra tổng quan BHXH Trung Quốc. Hệ thống BHXH ra đời từ năm 1951 theo mô hình của Liên Xô cũ và đã có nhiều cải cách, điều chỉnh theo từng thời kỳ phát triển của đất nước. Hiện nay, hệ thống BHXH của Trung Quốc đang trong giao đoạn chuyển đổi từ hệ thống PAYG với mức hưởng được xác định trước sang hệ thống hưu trí dựa trên 3 trụ cột: Hưu trí cơ bản: dựa trên nguyên tắc PAYG, trụ cột này chỉ do người sử dụng lao động đóng với tỷ lệ 13% tổng chi tiền lương; Tài khoản cá nhân: quỹ này do nhà nước quản lý.
Người lao động phải đóng 4% trích từ tiền lương nhận; người sử dụng lao động phải 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đóng 7% tổng chi tiền lương; Hưu trí bổ sung: đóng góp mang tính cá nhân theo hình thức bảo hiểm thương mại. Luật Bảo hiểm Xã hội của Trung Quốc lần đầu tiên được ban hành và có hiệu lực ngày 1/7/2011. Đây là khung khổ pháp luật BHXH toàn diện đầu tiên của Trung Quốc, trong đó quy định người sử dụng lao động phải đăng ký cả 5 chế độ BHXH cho người lao động, bao gồm chế độ hưu trí cơ bản, bảo hiểm y tế cơ bản, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thất nghiệp và chế độ thai sản. Cùng với BHXH bắt buộc giành cho cán bộ, công chức và người lao động khu vực chính thức, Trung Quốc đã thực hiện bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động thuộc khu vực phi chính thức đang làm việc cho các doanh nghiệp, người lao động tự làm và khu vực nông nghiệp ở cả nông thôn và thành thị, theo 2 chương trình: Chương trình bảo hiểm hưu trí thành thị và chương trình bảo hiểm hưu trí nông thôn.
Chương trình bảo hiểm hưu trí cho người lao động ở khu vực thành thị được thiết kế tương tự như hệ thống BHXH chung, bao gồm 3 trụ cột chính: Hưu trí cơ bản (đóng góp vào quỹ hưu chung); tài khoản cá nhân (đóng vào tài khoản cá nhân) và bổ sung của cá nhân. Trong khi đó, chương trình bảo hiểm hưu trí nông thôn được thiết kế dựa trên đóng góp của cá nhân, hỗ trợ của tập thể.