phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục bảng, biểu và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN TẢI BIỂN Chƣơng này tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản nhƣ: vận tải biển, cảng biển, tàu biển, dịch vụ biển; vai trò, tác dụng vận tải biển trong nền kinh tế, các yếu tố ảnh hƣởng đến vận tải biển và trình bày cô đọng chiến lƣợc vận tải biển của Trung Quốc giai đoạn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cơ sở cho phân tích thực trạng phát triển vận tải biển ở chƣơng 2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG VẬN TẢI BIỂN TRUNG QUỐC Phân tích đánh giá thực trạng phát triển hệ thống cảng biển, phƣơng tiện vận tải biển, hệ thống dịch vụ vận tải và quản lý phát triển vận tải biển của Trung Quốc. Qua phân tích làm rõ những kết quả và hạn chế của sự phát triển hệ thống vận tải biển Trung Quốc. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VẬN TẢI BIỂN CỦA TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM Phân tích những vấn đề đặt ra cùng những giải pháp điều chỉnh trong phát triển vận tải biển của Trung Quốc.
Chƣơng này gợi mở các giải pháp phát triển đối với vận tải biển của Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm Trung Quốc và thực trạng phát triển vận tải biển của Việt Nam thời gian qua. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN TẢI BIỂN 1. Các khái niệm cơ bản 1.Vận tải và vận tải biển Vận tải là hoạt động sản xuất vật chất thực hiện vận chuyển hàng hóa và ngƣời. Vận tải đƣợc chia làm vận tải đƣờng bộ (thƣờng gọi tắt là vận tải bộ), vận tải đƣờng thủy (vận tải thủy, vận tải biển), vận tải đƣờng không và vận tải đƣờng ống.
Vận tải biển là một trong những lĩnh vực thuộc ngành vận tải đƣờng thủy, trong đó, hàng hóa, dịch vụ và hành khách đƣợc chuyên chở bằng các đội tàu từ nƣớc này sang nƣớc khác nhờ đƣờng biển. Vận tải biển ra đời khá sớm so với các phƣơng thức vận tải khác. Ngay từ thế kỷ thứ V trƣớc Công nguyên con ngƣời đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đƣờng giao thông để giao lƣu các vùng, miền, các quốc gia với nhau trên thế giới. Cho đến nay vận tải biển đã phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.
Trong giai đoạn đầu, vận tải biển chỉ mang tính giao thƣơng cục bộ giữa các vùng lân cận trong một nƣớc hoặc giữa các khu vực láng giềng có chung biển. Dần dần, hoạt động vận tải biển đã đƣợc mở rộng ra những nơi xa xôi giữa các vùng ven đại dƣơng, nối liền các đại dƣơng với nhau. Vận tải biển chiếm hơn 80% lƣợng hàng chuyên chở, thích hợp với những hàng hóa khối lƣợng lớn, hàng rời, giá trị đơn vị không cao, không cần vận chuyển gấp. Vận tải biển gồm vận tải container, hàng rời, hàng lỏng.
Vận tải biển là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Sản phẩm của ngành vận tải biển là sự di chuyển hàng hóa và hành khách trên các tuyến đƣờng giao thông trên biển bằng các phƣơng tiện riêng có nhƣ tàu thủy, thuyền bè, phà, ca nô …với trình độ kỹ thuật ngày càng đƣợc cải tiến hiện đại và hoàn thiện hơn. Vận tải biển có thể chia làm ba loại: 1) Vận chuyển mang tính chất 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quân sự; 2) Vận chuyển phục vụ nghiên cứu khoa học; 3) Vận tải biển phục vụ mục đích kinh tế. Vận chuyển phục vụ mục đích kinh tế đƣợc coi là nhiệm vụ chính của vận tải biển.
Vận tải biển bắt đầu trở thành ngành kinh tế độc lập từ thời kỳ Chủ nghĩa Trọng thƣơng, khi xuất hiện mầm mống của chủ nghĩa tƣ bản ở Tây Âu. Thời kỳ này cũng là giai đoạn khi thƣơng mại quốc tế ra đời. Thƣơng mại quốc tế đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của vận tải biển. Ngƣợc lại, vận tải biển cũng hỗ trợ tích cực cho thƣơng mại quốc tế.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và những ƣu thế của đƣờng biển, vận tải biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia có biển. Cho đến nay, vận tải biển đƣợc phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế. Vận tải biển bao gồm cả vận tải hàng hóa và vận tải hành khách nhƣng trong phạm vi Luận văn này, vận tải biển sẽ chỉ đƣợc hiểu là vận tải hàng hóa. Cảng biển Cảng, theo Từ điển tiếng Việt, là nơi có công trình và thiết bị phục vụ cho tàu, thuyền ra vào để hành khách lên xuống, xếp dỡ hàng hóa.
Cảng biển theo thông lệ quốc tế đƣợc chia thành 2 cấp, cấp 1 là những cảng biển có lƣợng hàng thông qua 2 triệu TEUs/năm, cấp 2 là những cảng cửa ngõ quốc gia có lƣợng hàng thông qua trên 1 triệu TEUs/năm. Theo Luật Hàng hải Việt Nam, cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nƣớc cảng. Ở nơi này xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị để tàu biển ra, vào hoạt động bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Vùng đất cảng là vùng đất đƣợc giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xƣởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nƣớc, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nƣớc cảng là vùng nƣớc đƣợc giới hạn để thiết lập vùng nƣớc trƣớc cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác. Cảng biển có thể có một hoặc nhiều bến cảng. Các bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Bến cảng bao gồm cầu cảng, kho, bãi, nhà xƣởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nƣớc, luồng vào bến cảng và các công trình phụ trợ khác.
Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, đƣợc sử dụng cho tàu biển neo đậu, bốc dỡ hàng hoá, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Cảng biển, theo Luật hàng hải Việt Nam, đƣợc phân thành các loại: Thứ nhất, cảng biển loại I: là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc liên vùng; Thứ hai, cảng biển loại II: là cảng biển quan trọng, có quy mô vừa phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phƣơng; Và thứ ba, cảng biển loại III: là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp. Cảng biển có các chức năng sau: Một là, nhóm chức năng cơ bản: - Cung cấp phƣơng tiện và thiết bị để thông qua hàng hoá mậu dịch đƣờng biển, - Cung cấp luồng cho tàu bè vào cảng thuận lợi nhất, - Cung cấp đƣờng cho ô tô, xe lửa, tàu sông và các phƣơng tiện vận tải khác ra vào cảng, -Thực hiện các dịch vụ ngoài xếp dỡ hàng hoá nhƣ sửa chữa, cung ứng tàu thuyền, trú ngụ khi có bão hoặc các trƣờng hợp khẩn cấp khác; Hai là, nhóm chức năng phụ: - Bảo đảm an toàn cho tàu khi ra vào cảng, bảo đảm an toàn cho tàu và thuyền khi di chuyển trong cảng, cùng với sự an toàn về đời sống và tài sản của tàu khi còn nằm trong ranh giới của cảng, - Bảo đảm vệ sinh môi trƣờng; 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba là, nhóm chức năng cá biệt khác: - Là đại diện cơ quan Nhà nƣớc thực thi các tiêu chuẩn an toàn của tàu thuyền, thuỷ thủ, và kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng, - Là đại diện của cơ quan đăng kiểm tàu thuyền, - Làm dịch vụ khảo sát đƣờng thuỷ, - Thực hiện các hoạt động về kinh tế và thƣơng mại, - Cung cấp các công trình trƣờng học, bệnh viện, y tế, vui chơi giải trí cho nhân viên trong cảng và cả cƣ dân của thành phố. Cảng biển có vai trò quan trọng, là một đầu mối giao thông lớn, bao gồm nhiều công trình và kiến trúc, bảo đảm cho tàu thuyền neo đậu yên ổn, nhanh chóng và thuận lợi thực hiện công việc chuyển giao hàng hoá/hành khách từ các phƣơng tiện giao thông trên đất liền sang các tàu biển hoặc ngƣợc lại, bảo quản và gia công hàng hoá, phục vụ tất cả các nhu cầu cần thiết của tàu neo đậu trong cảng.
Ngoài ra nó còn là trung tâm phân phối, trung tâm công nghiệp, trung tâm thƣơng mại, trung tâm dịch vụ. Để đánh giá một cảng hoạt động tốt hay không tốt, hiện đại hay không phải căn cứ vào các chỉ tiêu sau: số lƣợng tàu hoặc tổng dung tích đăng ký (GRT) hoặc trọng tải toàn phần (DWT) ra vào cảng trong một năm. Chỉ tiêu này phản ánh độ lớn, mức độ nhộn nhịp của một cảng. Số lƣợng tàu có thể tiến hành xếp dỡ trong cùng một thời gian, khối lƣợng hàng hoá xếp dỡ trong một năm.
Chỉ tiêu này phản ánh độ lớn, mức độ hiện đại, năng suất xếp dỡ của một cảng. Mức xếp dỡ hàng hoá của cảng, tức là khả năng xếp dỡ hàng hoá của cảng, thể hiện bằng khối lƣợng từng loại hàng hoá mà cảng có thể xếp dỡ trong một ngày của tàu. Chỉ tiêu này nói lên mức độ cơ giới hoá, năng lực xếp dỡ của một cảng, khả năng chứa hàng của kho bãi cảng. Chỉ tiêu này thể hiện bằng số diện tích (m2) của kho bãi cảng, bãi container (CY) trạm giao nhận đóng gói hàng lẻ (CFS)… phản ánh mức độ lớn của cảng.
Chi phí xếp dỡ hàng hoá, cảng phí, phí lai dắt, hoa tiêu, cầu bến, xếp dỡ container (THC)… phản ánh năng suất lao động, trình độ quản lý của cảng. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuyến đường biển và phương tiện vận tải biển Trong vận tải biển, các tuyến đường vận chuyển đƣợc gọi là tuyến hàng hải. Tuyến đƣờng hàng hải là những tuyến đƣờng đƣợc hình thành giữa hai hay nhiều cảng với nhau, trên đó tàu, thuyền qua lại để chuyển hàng hóa hay hành khách.
Tuyến đƣờng hàng hải có nhiều loại dựa trên các căn cứ phân biệt khác nhau. Căn cứ vào phạm vi hoạt động: tuyến đƣờng hàng hải đƣợc phân chia thành hai loại: Một là, tuyến đƣờng hàng hải nội địa.