phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khung lý thuyết nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp tại Công ty cổ phần LICOGI 12. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của Công ty cổ phần LICOGI 12. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP 1.
Đấu thầu xây lắp 1. Khái niệm đấu thầu và đấu thầu xây lắp 1. Khái niệm đấu thầu Theo luật đấu thầu 2013, “đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tƣ để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ, dự án đầu tƣ có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Về bản chất đấu thầu là sự cạnh tranh công khai để thực hiện một yêu cầu nào đó.
Ở đây diễn ra hai cuộc cạnh tranh. Ở cuộc cạnh tranh thứ nhất, chủ đầu tƣ đóng vai trò là ngƣời mua luôn mong muốn mua đƣợc hàng hóa, dịch vụ có chất lƣợng tốt nhất với mức giá thấp nhất. Còn ngƣời bán tức các nhà thầu lại mong muốn bán đƣợc mặt hàng ở mức giá cao nhất có thể. Cuộc cạnh tranh thứ hai xảy ra do trong cuộc đấu thầu chỉ có một ngƣời mua là bên mời thầu nhƣng lại có nhiều ngƣời bán khác nhau là các nhà thầu.
Nên giữa những ngƣời bán có sự cạnh tranh với nhau để có thể bán đƣợc sản phẩm của mình. Kết quả cuối cùng của sự cạnh tranh này là giá trúng thầu đƣợc xác định. Nhƣ vậy, đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng và nó tuân theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trƣờng. Khái niệm đấu thầu xây lắp Trong cuốn “Bài giảng đấu thầu trong các dự án đầu tƣ”, TS.
Đinh Đào Ánh Thủy đã định nghĩa “đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu có năng lực thực hiện những công việc có liên quan tới quá trình xây dựng, mua sắm thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng…nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án”. 9 Liên quan đến đấu thầu xây lắp, một số khái niệm sau đã đƣợc làm rõ tại điều 4: giải thích từ ngữ trong Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2013: - Chủ đầu tƣ: “là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức đƣợc giao đại diện chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án”. - Bên mời thầu: “là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm: a) Chủ đầu tƣ hoặc tổ chức do chủ đầu tƣ quyết định thành lập hoặc lựa chọn; b) Đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thƣờng xuyên; c) Đơn vị mua sắm tập trung; d) Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền lựa chọn”. - Gói thầu: “là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lƣợng mua sắm một lần, khối lƣợng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thƣờng xuyên, mua sắm tập trung”.
- Xây lắp: “gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình”. - Nhà thầu chính: “là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu đƣợc lựa chọn. Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh”. - Nhà thầu phụ: “là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng đƣợc ký với nhà thầu chính.” - Hồ sơ mời thầu: “là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tƣ chuẩn bị hồ sơ dự thầu và đề bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tƣ”.
- Hồ sơ yêu cầu: “là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói 10 thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tƣ chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ đề xuất nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tƣ”. - Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất: “là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tƣ lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu”. Các hình thức đấu thầu xây lắp 1. Đấu thầu rộng rãi Theo mục 1 điều 20 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì, “Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tƣ trong đó không hạn chế số lƣợng nhà thầu, nhà đầu tƣ tham dự.
Đấu thầu hạn chế Theo điều 21 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì, “Đấu thầu hạn chế đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu. Chỉ định thầu Theo điểm a mục 1 điều 22 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì, “Chỉ định thầu đối với nhà thầu đƣợc áp dụng trong các trƣờng hợp sau: Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để đảm báo bí mật nhà nƣớc; gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của cộng đồng dân cƣ trên địa bàn hoặc để không ảnh hƣởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tƣ, thiết bị y tế để triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trƣờng hợp cấp bách. Các phương thức đấu thầu xây lắp 1. Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ Theo điểm a, b, c mục 1 điều 28 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì “phƣơng thức một giai đoạn một túi hồ sơ đƣợc áp dụng trong các trƣờng hợp sau đây: a) Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tƣ vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ; 11 b) Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; c) Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tƣ vấn, phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;” 1.
Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ Theo mục 1 điều 29 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì “ phƣơng thức một giai đoạn hai túi hồ sơ đƣợc áp dụng trong các trƣờng hợp sau đây: a) Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ phi tƣ vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp; b) Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tƣ. Phương thức hai giai đoạn Theo mục 1 điều 30 luật đấu thầu số 43/2013/QH13 thì “Phƣơng thức hai giai đoạn một túi hồ sơ đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.
Cạnh tranh Có nhiều cách hiểu khác nhau về cạnh tranh. Một cách tổng quát cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó diễn ra sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế với nhau để đạt mục đích kinh tế của mình - đó là tối đa hóa lợi ích. Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau mà cạnh tranh chính là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh chỉ xảy ra khi thỏa mãn các điều kiện sau: - Số lƣợng chủ thể tham gia phải nhiều: đây là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu có nghĩa là các chủ thể phải cùng hƣớng đến một đối tƣợng.
- Môi trƣờng cạnh tranh: đây là các ràng buộc mà các chủ thể tham gia cạnh tranh cần phải tuân thủ. Các ràng buộc này chính là các quy định của pháp luật, thông lệ kinh doanh và các đặc điểm về yêu cầu sản phẩm của khách hàng. - Khoảng thời gian diễn ra cạnh tranh là không cố định, có thể ngắn - diễn ra trong từng vụ việc, cũng có thể dài - cạnh tranh diễn ra trong suốt quá trình tồn tại 12 của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh. Không gian diễn ra cạnh tranh có thể chỉ gói gọn trong phạm vi của một ngành, một địa phƣơng hoặc cũng có thể mở rộng trong một quốc gia, giữa các quốc gia.
Năng lực cạnh tranh a. Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo M. Porter thì “năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”. Năng lực cạnh tranh phải xuất phát từ thực lực của chính bản thân doanh nghiệp.
Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và đƣợc so sánh với các đối thủ trên cùng một sản phẩm, cùng một lĩnh vực và thị trƣờng. Phân tích nội lực sẽ giúp doanh nghiệp nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của nó và từ đó sẽ đƣợc sử dụng để đánh giá NLCT của doanh nghiệp thông qua việc so sánh với các đối thủ. Việc đánh giá này là cơ sở để doanh nghiệp xác định đƣợc lợi thế của mình nhờ đó có thể mở rộng thị phần, thu hút đƣợc khách hàng. Ngoài ra, việc khai thác các yếu tố tác động bên ngoài để tận dụng các cơ hội cũng nhƣ hạn chế các thách thức cũng giúp doanh nghiệp nâng cao NLCT.